Chương 105: Tạo Hóa Bất Phi
Quang trụ thùy thiên thỉnh bất hành, Tam thập niên lai điền tự canh. Bạch phát lưu tồn ký cố nhân, Tiều phu thủ quật táng huynh trường.
Bữa cơm đầu tiên sau khi trời cúi đầu là cơm độn khoai.
A Lan nấu trong cái nồi đất sứt quai, cái nồi đã nấu cho hai mươi vạn người năm khe nứt mở, đã nấu cho cố nhân đêm trước độ kiếp, đã nấu cả buổi sáng hôm ấy mà không ai về ăn. Cơm nguội rồi hâm, hâm rồi nguội, đến lần thứ tư thì cháy đáy. Không ai chê. Lục Trường Ca ngồi trên bậc thềm nhà Thạch Đầu, áo rách tả tơi, tay còn dính bùn đáy giếng, ăn hết một bát cháy đáy, xin thêm bát nữa.
“Ca ăn từ từ,” Thạch Đầu nói. “Không ai giành.”
“Ba ngày rồi chưa ăn.”
“Ba ngày thôi à? Đệ tưởng ba năm.”
Con trai bảy tuổi của Thạch Đầu, thằng Thủy Sinh, ngồi xổm trước mặt hắn, nhìn chằm chằm vào mắt trái đã mù. Nó hỏi cha nó, giọng thì thầm mà cả sân nghe thấy: “Bác Lục chém trời thật hả cha?”
“Thật.”
“Trời có chảy máu không?”
Thạch Đầu nghĩ một lúc. “Không. Trời chảy chỉ.”
Thằng bé không hiểu. Trường Ca cũng không giải thích. Hắn chỉ đưa bát cho nó, bảo nó đi xới thêm. Thằng bé chạy đi, vấp bậc cửa, không khóc, đứng dậy chạy tiếp.
Ngoài sân, cố nhân ngồi la liệt trên đất. Hồng Liên Diễm tựa gốc đào, Phần Thiên Lăng quấn quanh cổ như khăn, mặt trắng bệch vì mất máu mà miệng vẫn nhai. Kim Vũ ngồi trên mái nhà, cánh trái rũ, không chịu xuống vì “chim không ngồi đất”. Lãnh Vô Sương ngồi ghế bánh xe dưới mái hiên, Lạc Băng Tâm đút cháo cho bà từng thìa. Tạ Thiên Phong ngồi dựa tường, hai tay nẹp tre, Tô Tịnh Liên đút cơm. Ông nhai, không nói gì. Đa Đa ngồi giữa sân ôm sổ, ăn bằng một tay, tay kia gảy bàn tính vàng không ngừng.
“Tính gì?” Hồng hỏi.
“Tính xem trận này tốn bao nhiêu.”
“Ra bao nhiêu?”
Đa Đa gảy thêm mấy hạt. Dừng. Gảy lại. Dừng. Rồi y đặt bàn tính xuống đất. “Không tính được. Cái gì cũng không tính được nữa. Ba mươi năm lần đầu tiên bàn tính của ta đứng.”
“Thì bỏ đi.”
“Không bỏ. Đeo. Để nhớ có thứ không tính được.”
Thanh Tuyết ngồi cạnh Trường Ca trên bậc thềm. Nàng không ăn. Nàng nhìn hắn ăn. Áo trắng của nàng cũng rách, tóc rối, trên trán một vệt bùn đáy giếng chưa lau. Chưởng môn Dao Trì. Luyện Hư Sơ kỳ. Ngồi bậc thềm nhà một nông phu, nhìn một tiều phu ăn cơm cháy.
“Ngươi không đói?” hắn hỏi khẽ.
“Đói. Nhưng muốn nhìn trước.”
“Nhìn gì?”
“Nhìn ngươi ăn cơm mà không phải đi đâu.”
Đêm thứ ba, quang trụ tới.
Không phải từ con mắt vàng. Con mắt ấy đã khép. Không phải từ kim bào. Kim bào đã tan thành bụi. Quang trụ đi xuống từ đỉnh Thông Thiên Thê phía đông bắc, từ chính Phi Thăng Đài vừa được sưởi mở. Ánh sáng màu trắng ngà, như ánh trăng soi qua giấy dó, không chói, không ép, không mang theo một sợi chỉ vàng nào. Nó bước chậm qua ngàn dặm trời đêm, dừng lại ngay trên miệng giếng Thanh Thạch, rồi rủ xuống như một dải lụa mềm, đầu dải lụa chạm khẽ vào thành giếng, chạm đúng tám chữ khắc năm hắn mười lăm.
Cả làng thức dậy. Không ai hô. Người ta mở cửa, đứng trước sân, nhìn.
Trường Ca đi ra giếng. Hắn ngồi lên thành giếng, chỗ hắn đã ngồi độ kiếp, chân thòng vào lòng giếng, dưới chân là nước lưng chừng phản chiếu ánh trắng ngà. Hắn đưa tay chạm vào dải sáng. Ấm. Như tay mẹ.
Hắn hiểu. Đài không ép. Đài mời. Một người Tạo Hóa Cảnh đứng ở dưới, đường đã mở, đài vạn năm đóng giờ mở, thì đài làm việc của đài: mời người lên. Cửa bên kia không còn ruộng. Không còn người coi ruộng. Chỉ còn một con đường dài chưa ai đi, dẫn tới chỗ mà ba nghìn năm trước Nhân Hoàng không tới được, vạn năm trước thiên kiêu kia bị bẻ trước khi tới.
Hắn chỉ cần đứng dậy, bước vào dải sáng.
Hắn ngồi im.
Thạch Đầu đi tới, đứng sau lưng hắn, tay cầm sào cờ đã buộc lại chỗ gãy. Ông không nói gì. Ông chỉ đứng, như đã đứng mười mấy năm nay, như người cầm cờ đứng bên ghế minh chủ.
“Ngươi không hỏi?” Trường Ca nói.
“Hỏi gì? Ca đi thì đệ tiễn. Ca ở thì đệ nấu cơm. Việc của đệ không đổi.”
Hồng đi tới, Phần Thiên Lăng kéo lê sau lưng. “Đồ khốn. Không đi à?”
“Chưa.”
“Tạo Hóa rồi đấy. Mười vạn năm Thương Lan mới có một người. Trời mở cửa mời. Ngươi không đi?”
“Lúa chưa gặt.”
Hồng nhìn hắn rất lâu. Rồi nàng cười, không to, lần đầu tiên trong đời cười nhỏ. “Ngươi nói thật à?”
“Thật. Ruộng bậc thang Thanh Thạch tháng sau gặt. Ta chưa gặt mùa nào ở đây từ năm mười lăm tuổi.”
“Thế còn Ngũ Vực? Linh Cống? Tông môn? Thiên Đô? Ngươi chém trời xong rồi, chúng nó sẽ lại ăn người như cũ, chỉ không phải nộp lên trên nữa thôi.”
“Cho nên ta chưa đi.”
Kim Vũ đáp xuống từ mái nhà, lần đầu tiên chịu đặt chân xuống đất. “Ba mươi năm,” y nói. “Kim Bằng tính được bao lâu thì ruộng mới thành ruộng. Ba mươi năm. Ngắn hơn thì cỏ mọc lại.”
Lãnh Vô Sương lăn ghế tới, Lạc Băng Tâm đẩy sau. Bà nhìn dải sáng trắng ngà. “Lần thứ ba,” bà nói. “Lần thứ nhất Ma Tôn lên, lên để ăn. Lần thứ hai Nhân Hoàng không lên được. Lần thứ ba có người lên được mà không lên. Băng Tâm, ghi.”
“Ghi gì ạ?”
“Ghi: không lên.”
Quang trụ đợi bảy đêm. Mỗi đêm Trường Ca ra ngồi thành giếng, chạm tay vào ánh trắng, rồi rút tay về. Đêm thứ bảy hắn nói với dải sáng, như nói với người làng:
“Đợi ta. Không lâu. Đời người thôi.”
Dải sáng rút lên. Chậm. Như người lui ra cửa còn ngoái lại. Nhưng không tắt hẳn. Từ đêm ấy, ai ở Ngũ Vực ngẩng đầu nhìn về đông bắc cũng thấy một sợi chỉ trắng ngà mảnh như tơ nhện nối từ đỉnh Thông Thiên Thê lên trời. Không chói. Không gọi. Chỉ ở đó. Như một con đường làng có người đã quét sẵn, ai muốn đi lúc nào thì đi.
Người ta bảo nhau: đó là đường của chúng sinh. Không phải của tiên.
Tháng sau, ruộng bậc thang Thanh Thạch gặt.
Trường Ca gặt lúa bằng liềm. Liềm của Trương Lão Tam, Thạch Đầu giữ từ Huyết Lao, lưỡi mòn vẹt, cán quấn vải. Một Tạo Hóa Cảnh, người một kiếm chém đôi Thủ Môn Nhân, đứng dưới ruộng nước ngập mắt cá, lưng còng, cắt từng nắm lúa, bó lại, đặt lên bờ. Thằng Thủy Sinh lon ton nhặt bông rơi.
Hắn cắt được ba sào thì đứt tay. Lưỡi liềm cùn trượt vào ngón cái, máu chảy. Hắn nhìn máu. Đỏ. Không vàng, không đen, không xám. Máu người.
Hắn cười, ngồi xuống bờ ruộng, mút ngón tay như đứa trẻ.
“Ca cười gì?” Thạch Đầu hỏi từ ruộng bên.
“Lâu lắm rồi không đứt tay vì cái liềm.”
Ba mươi năm sau đó, sử Huyền Băng Cung về sau ghi bằng một trang. Lạc Băng Tâm viết, Lãnh Vô Sương duyệt, và bà già ấy không cho viết thêm chữ nào thừa.
Năm thứ nhất, hội Ngũ Vực họp dưới gốc đào Thanh Thạch. Không phải ở Thiên Đô. Không phải ở Vạn Tiên Các. Dưới gốc đào, cạnh giếng làng, trên những chiếc chiếu cói dân làng trải ra. Ba trăm tông môn tới. Có tông tới vì sợ. Có tông tới vì muốn nhìn tận mắt người chém trời. Có tông tới vì không còn chỗ nào khác để đi.
Trường Ca không ngồi ghế chủ. Ghế chủ để trống. Cạnh ghế trống, Thạch Đầu cầm sào cờ đứng.
Người viết Thương Lan Tân Ước không phải Trường Ca. Là Lý Đại Ngưu ở làng Hạ Hà, cầm cuốc mẻ tới, đứng giữa ba trăm chưởng môn, nói từng câu, chậm, như cày ruộng. Bà già cõng cháu làng Đợi Được nói thêm vài câu. Ông lão Hạ Khê nói vài câu. A Diễm của Ô Man, giờ đã là mẹ ba con, nói vài câu. Lạc Băng Tâm ghi. Đa Đa sửa câu chữ cho chặt, không đổi ý.
Tân Ước có năm điều:
Điều một: Linh Cống bãi bỏ khắp Ngũ Vực. Không thu linh mạch. Không thu trẻ có linh căn. Không thu một hạt thóc nào nhân danh tu tiên.
Điều hai: Tông môn không được chiếm linh mạch của đất phàm. Linh mạch dưới thôn là của thôn. Tông môn muốn dùng thì hỏi, thôn cho mới dùng.
Điều ba: Trẻ có linh căn tự chọn đi hay ở. Cha mẹ phải gật đầu. Đi rồi muốn về thì được về.
Điều bốn: Tu sĩ giết phàm nhân, xử như người giết người.
Điều năm: Người cầm cờ là phàm nhân.
Đọc xong, cả hội im. Một chưởng môn Thanh Hà Kiếm Phái đứng dậy, râu dài, giọng to: “Tại hạ hỏi Lục minh chủ. Điều năm là ý gì? Phàm nhân cầm cờ thì tu sĩ cầm gì?”
“Cầm kiếm,” Trường Ca nói. “Đứng sau người cầm cờ.”
“Nếu tại hạ không ký?”
Trường Ca không trả lời. Tạ Thiên Phong trả lời. Ông đứng dậy, hai tay nẹp tre buông thõng, kiếm lưỡi cuốc buộc sau lưng bằng dây gai. “Thì ta tới ngồi trước cổng nhà ngươi.”
“Ngươi không có tay.”
“Có lưng.”
Ba tháng sau, Tạ Thiên Phong ngồi trước sơn môn Thanh Hà Kiếm Phái ba ngày ba đêm. Không rút kiếm, vì không có tay để rút. Ngày thứ tư, chưởng môn Thanh Hà ra ký. Đệ tử Thanh Hà hỏi Tạ đã đánh chưa. Ông nói: “Đánh rồi. Ngươi không thấy thôi.”
Năm thứ ba, Phàm Nhân Minh mở học đường.
Học đường đầu tiên là gian nhà gỗ cạnh giếng Thanh Thạch. A Lan dạy đếm bằng sỏi. Tô Tịnh Liên dạy chữ. Ba trăm đệ tử Thiên Cơ cũ, giờ tóc đã điểm bạc, chia nhau về các thôn dạy. Học đường không hỏi linh căn. Không đặt trắc linh thạch trước cửa. Ai tới cũng được ngồi.
Chữ đầu tiên dạy ở mọi học đường là chữ Nhân. Nét phẩy, nét mác. Một người không đứng được, phải có người khác đỡ.
Sau chữ là thân. Trường Ca soạn một bộ dưỡng thân pháp từ ba thức chẻ củi của cha, đặt tên là Tiều Phu Tam Thức. Không cần linh căn. Không dẫn linh khí. Chỉ dạy người ta thở cho đều, đứng cho vững, nhấc rìu không đau lưng. Người có linh căn tập thì nền tu vi vững. Người không linh căn tập thì sống lâu hơn mười năm, ít ốm, gánh nước không còng.
Thức thứ tư hắn không dạy. Hắn bảo thức ấy ai cũng biết rồi, chỉ là chưa đặt tên. Nhóm bếp cho nhà người ta. Thế thôi.
Năm thứ năm, học đường có ở năm trăm thôn. Năm thứ mười, ba nghìn thôn. Năm thứ hai mươi, không còn ai đếm.
Trong học đường, trẻ con hát một câu không biết ai đặt ra. Có người bảo là bà già làng Đợi Được. Có người bảo là Lý Đại Ngưu. Có người bảo là chính trời đặt ra sau cái ngày nó cúi đầu.
“Trời cao nhường nào, cũng có ngày cúi đầu trước người chẻ củi.”
Trường Ca nghe trẻ con hát, lần đầu thì đỏ mặt. Lần thứ trăm thì quen. Lần thứ nghìn thì hắn hát theo.
Năm hắn bảy mươi ba tuổi, Thanh Tuyết độ kiếp.
Mười bảy năm nàng tu từ Luyện Hư Sơ kỳ lên Đại Thừa Đại Viên Mãn. Nhanh hơn ai hết trong vạn năm Dao Trì. Không phải vì Thái Âm Tiên Thể. Vì nàng không còn phải giấu một sợi chỉ nào trong hồn. Sợi phí đã về chủ. Băng trong nàng không còn là băng tự phong. Là băng của mặt hồ mùa đông, dưới băng nước vẫn chảy.
Nàng chọn độ kiếp ở làng bờ biển ranh giới Bắc Minh và Đông Thắng, nơi nàng sinh ra. Không phải ở Dao Trì. Không phải ở Huyền Băng. Ở cái làng chài nhỏ có ngôi mộ không bia của một tán tu họ Mộ Dung.
Trường Ca ngồi trên một tảng đá cách nàng trăm trượng. Không giúp. Lôi kiếp không cho người khác giúp. Hắn chỉ ngồi, như đêm nàng đứng ngoài Thiên Hỏa Trì không được nhìn, không được gọi.
Lãnh Vô Sương tới, ghế bánh xe lún trong cát. Bà đã già lắm. Tóc trắng như tuyết Bắc Minh, bàn tay trái không động đậy hai mươi năm nay. Bà nhìn đứa cháu gái đứng giữa bãi cát dưới mây đen.
“Mẹ nó đứng trước tường băng, nói một câu, rồi chết,” bà nói. “Bà già này giữ câu ấy gần bảy mươi năm. Giữ tên. Chỉ giữ tên.”
“Tiền bối giữ đủ rồi.”
“Đủ hay không, hôm nay mới biết.”
Tám mươi mốt đạo lôi. Nhục thân kiếp, tâm ma kiếp, pháp tắc kiếp, Hỗn Độn Thần Lôi. Thanh Tuyết đỡ từng đạo bằng Lãnh Nguyệt Kiếm, chuôi khắc bông tuyết sáu cánh. Ở đạo tâm ma, nàng gặp lại mẹ, gặp lại người cha họ Mộ Dung lưng thẳng, gặp lại Bích Lạc. Nàng không chém Bích Lạc. Nàng cúi chào, rồi đi qua.
Đạo thứ tám mươi mốt tan.
Cả bãi biển nín thở. Hàng nghìn người làng chài đứng trên đồi cát. Trường Ca ngẩng đầu, mắt phải nhìn thẳng vào kiếp vân. Hắn đợi con mắt vàng.
Kiếp vân tan.
Không có mắt. Không có tay. Không có đạo thứ tám mươi hai. Chỉ có trời xanh Bắc Minh, lạnh, trong, một đàn hải âu bay ngang, và một sợi chỉ trắng ngà mảnh như tơ phía đông bắc vẫn ở chỗ cũ.
Thanh Tuyết đứng giữa bãi cát cháy đen, tóc rối tung trong gió biển, rồi nàng làm một việc mà Chưởng môn Dao Trì, Độ Kiếp thành công, không ai nghĩ nàng sẽ làm. Nàng ngồi phịch xuống cát, như đứa trẻ, và khóc.
Lãnh Vô Sương nhắm mắt. “Băng Tâm. Ghi.”
“Ghi gì ạ?”
“Ghi: không có đạo thứ tám mươi hai. Ghi: Lãnh Thanh Nguyệt, con gái con được sống. Rồi gấp sổ lại.”
Ngày hôm sau, Thanh Tuyết dựng cho cha một tấm bia. Không khắc pháp hiệu, vì ông không có. Khắc “Mộ Dung. Lưng thẳng.” Bên cạnh, Lãnh Vô Sương đặt Thanh Nguyệt Kiếm của em gái, chiếc kiếm từng buộc vào lưng đứa bé ba tuổi.
Ba năm sau, Lãnh Vô Sương qua đời ở Huyền Băng Cung, ngồi trước bia ba mươi mốt tên. Trên bia, ngay dưới dòng chữ của Cung Chủ đời một, bà đã khắc thêm một dòng bằng tay phải run: “Lần thứ ba, có người chặn. Không phải một người.”
Hồng Liên Diễm tu lại Hóa Thần mất hai mươi hai năm. Lâu hơn lần đầu gấp ba. Nàng không than. Nửa phượng huyết đã cho đi, không đòi lại. Nàng tu bằng nửa còn lại, bằng lửa Tổ Hỏa, bằng than Cửu U, bằng rượu ngô Ô Man.
Ngày nàng đột phá, Hồng Thiên Liệt ngồi trước hang Tổ Hỏa, chống gậy sắt, đã hơn hai trăm ba mươi tuổi. Lão trao gậy cho nàng. “Tông chủ.”
“Sư tổ còn sống mà.”
“Sống. Nhưng già. Già thì về uống. Ngươi cầm.”
Hồng cầm gậy. Ngày đầu làm Tông Chủ Xích Viêm, nàng làm một việc: mở cổng Xích Viêm cho trẻ Nam Hoang không linh căn vào học Tiều Phu Tam Thức. Đệ tử già phản đối. Nàng đốt râu một người. Không ai phản đối nữa.
Tiền Đa Đa làm Lâu Chủ Vạn Bảo Lâu năm Trường Ca sáu mươi. Ngày nhậm chức, y mở kho mật tầng chín, lấy ra ba trăm cuốn sổ giao dịch lô đỉnh, nô lệ, trẻ linh căn của ba nghìn năm. Y không đốt. Y gửi về Huyền Băng Cung. “Không phải để giữ tên kẻ bán. Để giữ tên người bị bán.” Rồi y mở một quầy mới ở tầng một Vạn Bảo Lâu: cho phàm nhân vay không lãi để đào giếng.
Chiếc bàn tính vàng y vẫn đeo bên hông. Không gảy nữa. Ai hỏi, y bảo: “Đeo để nhớ. Có một lần nó đứng.”
Kim Vũ làm Kim Bằng Vương. Cánh trái vẫn cong. Mỗi năm một lần, tháng Tám, y bay từ Kim Sa Sơn qua Thanh Thạch, lượn ba vòng trên giếng, thả một chiếc lông vàng. Chiếc lông đầu tiên rơi xuống trước chân Trường Ca, kèm một câu gió mang tới: “Lần này thả. Vì ngươi không rơi.”
Tạ Thiên Phong không có tay, vẫn giữ Đoạn Long Quan. Ông dạy kiếm bằng chân, bằng lưng, bằng mắt. Đệ tử ông sợ ông hơn sợ ma triều. Năm Vương bá mất, Tạ đứng bên mộ suốt một ngày. Cuối ngày, ông nói câu dài nhất ai từng nghe: “Kiếm ông rèn cùn hơn kiếm cũ. Nhưng không biến mất. Ông cũng thế.”
Tạo Hóa Cảnh cho Trường Ca nhiều thứ. Hắn có thể trả lại mắt trái. Hắn có thể nhuộm đen mái tóc mai. Hắn có thể sống thêm nghìn năm như một cây đào không bao giờ già.
Hắn không làm.
Mắt trái vẫn mù. Tóc mai trái trắng, tóc mai phải bạc dần theo năm tháng, đến năm bảy mươi thì bạc hết. Da mặt có nếp nhăn ở khóe mắt, chỗ hay nheo khi nhìn nắng. Lưng còng nhẹ, như người chẻ củi lâu năm.
Thanh Tuyết hỏi một lần, đêm trên thành giếng: “Sao không xóa?”
“Mắt trái nhớ Tiểu Đào. Tóc nhớ những năm ta không ngủ. Xóa đi thì ai nhớ?”
“Ta nhớ.”
“Ngươi nhớ thêm thì nặng. Để tóc nhớ hộ.”
Nàng không hỏi nữa. Từ năm ấy, tóc nàng cũng điểm bạc theo hắn từng sợi. Nàng cũng không xóa sợi nào.
Năm Trường Ca tám mươi tư tuổi, Thạch Đầu mất. Thọ bảy mươi tám.
Mùa thu. Lúa vừa gặt. Ông ngồi trên ghế tre cạnh giếng, sào cờ dựa vai, như mọi chiều. Thủy Sinh đã ba mươi lăm, có vợ, có con trai năm tuổi tên Tiểu Tuyền. Thằng bé đang tập kéo gầu, kéo được nửa gầu thì đổ, kéo lại.
“Ca,” Thạch Đầu gọi.
Trường Ca đang chẻ củi ở góc sân, đặt rìu xuống, đi tới.
“Múc cho đệ một gầu.”
Trường Ca múc. Nước giếng lưng chừng, mát, trong. Hắn đổ ra bát sành, đưa tận tay. Thạch Đầu uống một ngụm. Tay run. Nước sóng ra áo.
“Ngọt,” ông nói. “Năm sáu tuổi đệ không biết nước giếng làng ngọt thế nào. Giếng cạn rồi.”
“Biết rồi đấy thôi.”
“Biết rồi.” Ông nhìn lên trời phía đông bắc, nơi sợi chỉ trắng ngà vẫn ở đó. “Ca. Bao giờ ca đi?”
“Chưa.”
“Đừng đợi đệ. Đệ đi trước. Ca đi sau. Thế mới đúng thứ tự.” Ông cười, răng rụng mất mấy cái. “Năm ấy ca đi trước. Đệ ở lại. Lần này đổi.”
Trường Ca không nói gì. Hắn ngồi xuống bậc giếng cạnh ghế tre.
“Ca nhớ không,” Thạch Đầu nói, “năm ca mười lăm, dạy đệ chữ Ca. Đệ viết nét sổ thành nét phẩy.”
“Nhớ.”
“Đệ viết lại đẹp rồi. Ca xem.” Ông giơ ngón tay run run, vẽ vào không khí. Chữ Ca. Nét sổ thẳng.
“Đẹp,” Trường Ca nói.
Thạch Đầu gật đầu. Rồi ông nhắm mắt. Tay vẫn ôm sào cờ. Đầu ngả vào vai Trường Ca, nhẹ, như hồi sáu tuổi ngủ gật bên đống lửa.
Trường Ca ngồi yên đến khi mặt trời lặn. Tiểu Tuyền kéo được một gầu đầy, chạy tới khoe ông nội. Thấy ông nội ngủ, thằng bé đặt gầu xuống, ngồi im bên cạnh.
Hắn tự tay đào huyệt.
Không dùng kiếm. Không dùng thần thức. Không dùng một sợi Tạo Hóa nào. Hắn dùng cái cuốc cũ của làng, cái cuốc mà Vương bá đóng lại cán năm Huyết Lao về. Gò đá xám, cạnh mộ mẹ Thạch Đầu, cách mộ cha mẹ hắn mười bước.
Đất gò đá xám cứng. Đất sét pha đá xanh. Mỗi nhát cuốc dội vào tay như đập vào đá. Hắn đào như một người tiều phu đào, lưng còng, thở đều, từng nhát một. Mồ hôi chảy xuống mắt phải. Hắn không lau.
Cả làng đứng xem. Không ai giúp. Không ai dám giúp. Thủy Sinh muốn xuống, Thanh Tuyết giữ tay lại. “Để bác đào.”
Hắn đào từ sáng tới chiều. Huyệt sâu sáu thước. Đáy huyệt chạm một mạch nước nhỏ, rỉ ra trong vắt. Hắn nhìn mạch nước, rồi ngồi xuống đáy huyệt, lần đầu tiên trong ngày, thở dốc.
Đất này năm xưa khô như tro. Giờ đào sáu thước đã gặp nước.
Họ đặt Thạch Đầu xuống trong tấm áo nâu vá góc. Sào cờ không chôn theo. Thủy Sinh cầm sào cờ. Trường Ca gật đầu. Cờ phải ở trong tay người sống.
Hắn lấp đất bằng tay. Rồi hắn tìm một phiến đá xanh ở mỏ đá Thanh Thạch, chỗ mảnh kiếm của Mạc Vấn Thiên từng rơi, vác về trên vai. Hắn khắc bia bằng con dao nhỏ, như năm mười lăm khắc thành giếng. Không dùng kiếm khí.
Trương Thạch Đầu. Người cầm cờ.
Nét phẩy chữ Nhân trong chữ “người” hắn khắc chậm nhất. Không run.
Hồng tới muộn một ngày, cánh lửa cháy xém vì bay suốt đêm. Nàng đứng trước bia, đặt một vò rượu ngô. Kim Vũ thả một chiếc lông vàng. Đa Đa mở sổ, viết dòng cuối cùng dưới tên Thạch Đầu: “Không nợ ai. Ai cũng nợ ông.”
Tạ Thiên Phong tới từ Đoạn Long Quan, đi bộ, vì không cưỡi được ngựa. Ông đứng trước bia, nhìn rất lâu, rồi cúi lưng. Lưng ấy, cả đời không cúi trước ai, cúi trước một phàm nhân.
Đêm ấy Trường Ca ngồi trên thành giếng một mình. Thanh Tuyết không ra. Nàng biết.
Nước giếng lưng chừng phản chiếu sợi chỉ trắng ngà phía đông bắc. Hắn nhìn sợi chỉ trong nước, không ngẩng đầu.
“Đệ đi trước rồi,” hắn nói với giếng. “Thứ tự đúng rồi.”
Gió đi qua gốc đào. Một chiếc lá vàng rơi xuống nước. Không chìm.
Sáng hôm sau, Tiểu Tuyền dậy sớm, kéo một gầu nước đầy, tưới lên gốc đào như cha nó dạy, như ông nội nó dạy cha nó. Rồi thằng bé chạy ra góc sân, nhặt chiếc rìu nhỏ, đứng cạnh Trường Ca, bắt chước hắn chẻ củi.
“Bác Lục. Thức một đặt chân thế nào?”
Hắn đặt rìu xuống, quỳ một gối, sửa chân cho nó.
Muốn biết hậu sự thế nào, xin xem hồi sau phân giải.