Chương 48: Nhân Hoàng Truyền Thuyết
Phàm thân thượng cổ khai sơn hà, Họa lý tàng dân tị hồng ba. Cổ lăng phi vị kỷ giả nhập, Xích hỏa tam thôn tận tác sa.
Tóc hắn mọc lại vào mùa thu năm ấy.
Lúc đầu là một lớp lông tơ đen mịn trên đỉnh đầu, như cỏ non mọc trên đất cháy. Tới Tết của người Ô Man, rơi vào tháng Chạp, tóc đã dài chấm gáy. Hai bên thái dương, tóc mai mọc lên vẫn bạc trắng, như hai vệt sương không chịu tan.
Bà lão răng đen nhìn hai vệt bạc ấy, lắc đầu, lẩm bẩm một câu tiếng cổ. Ô Mãng dịch lại cho hắn: “Trẻ mà tóc đã có tuyết. Bà bảo, người như thế từng đổi mạng lấy thứ gì đó.”
Hắn không cãi.
Người Ô Man cho hắn một căn nhà sàn ở bậc thứ bảy, sát vách núi phía tây. Mái lá cọ, sàn tre, cửa trông ra lòng chảo. Sáng sáng, hắn nghe tiếng trẻ con đùa dưới suối nước nóng. Tối tối, hắn thấy làn khói đỏ trên đỉnh núi bằng in lên nền trời như một nét bút son.
Đêm không còn ai đi qua bầu trời vào giờ Tý.
Năm đầu tiên, hắn ngủ không trọn đêm nào. Cứ tới giờ Tý là mở mắt, nằm im chờ. Chờ cái lạnh mênh mông quét qua rừng. Chờ cổ giản nóng lên. Không có gì tới cả. Chỉ có tiếng côn trùng, tiếng suối, và tiếng thở đều của Hỗn Độn trong Kim Đan.
Năm thứ hai, hắn ngủ được tới sáng.
Hắn học tiếng Ô Man từ lũ trẻ.
Sáu mươi ba đứa trẻ ấy, đứa nào cũng biết “Thạch Ca” là người đã cho chúng uống thứ nước lá đắng ngắt. Chúng bám theo hắn như bầy gà con, kéo áo, chỉ vào đồ vật, gào to tên của chúng bằng tiếng cổ. Đá. Nước. Lửa. Giáo. Thịt. Hắn lặp lại, chúng cười lăn lộn vì giọng hắn lơ lớ. Hắn lặp lại tới khi chúng thôi cười.
Đổi lại, hắn dạy chúng chữ.
Không có giấy, không có bút. Hắn bẻ một cành tre, viết lên cát bên suối. Chữ “nhân”. Chữ “sơn”. Chữ “thủy”. Lũ trẻ ngồi xổm quanh hắn, há hốc miệng nhìn những nét gạch trên cát, như nhìn phép thuật.
Con gái út của Ô Mãng, tên là A Diễm, năm nay sáu tuổi, viết chữ nắn nót nhất. Nó viết chữ “nhân” mười lần liền, rồi ngẩng lên hỏi:
“Thạch Ca, chữ này nghĩa là gì?”
“Là người.”
“Sao người lại chỉ có hai nét?”
Trường Ca nhìn chữ “nhân” trên cát. Một nét dài, một nét ngắn, tựa vào nhau.
“Vì một người không đứng được,” hắn nói. “Phải có người khác đỡ.”
Năm xưa, Mạc Lão cũng dạy hắn chữ ấy dưới hiên tiệm quan tài. Ông cũng nói câu ấy. Lúc ấy hắn tám tuổi, không hiểu. Bây giờ hắn hiểu rồi, thì người dạy hắn đã thành tro, nằm dưới gốc một cây đào non.
Trong ngực áo, cổ giản ấm nhè nhẹ. Không có giọng nói.
Ban ngày, hắn đi săn với Ô Mãng.
Người Ô Man không tu tiên. Họ không có linh căn, không có công pháp, không biết dẫn khí. Nhưng họ tôi luyện thân thể bằng Tổ Hỏa từ lúc lọt lòng. Đứa trẻ mới sinh được tắm trong nước suối nóng. Thiếu niên mười lăm tuổi phải ngồi bên miệng hồ dung nham một nén nhang. Chiến sĩ trưởng thành chạy cả ngày trong rừng không biết mệt, một ngọn giáo xương đâm thủng được vảy mãng xà tam giai.
Hắn hỏi Ô Mãng, người Ô Man có ai tu tiên không.
“Có,” Ô Mãng nói. “Đời ông nội ta, có một đứa trẻ sinh ra có linh căn. Tu sĩ ngoài rừng tới, dắt đi. Bảo là tiên duyên.” Y nhổ một bãi nước bọt. “Từ đó không bao giờ về.”
Trường Ca không nói gì.
Linh Cống không chỉ có ở Đông Thắng.
Ban đêm, hắn tu luyện bên hồ Tổ Hỏa. Ô Thiết Sơn cho phép hắn vào hang bất cứ lúc nào. Đường vân đỏ cam quanh Kim Đan mỗi đêm một đậm hơn. Hỏa thuộc tính hòa vào chín đường vân cũ, như nước nóng hòa vào chậu nước lạnh, từ từ, không vội. Hỗn Độn đã hồi lại sức, xoay đều như bánh xe nước, nuốt lửa, nuốt khí, nuốt cả hơi lưu huỳnh trong hang.
Kim Đan Trung kỳ, vững như đá.
Ra khỏi hang, hắn vận Liễm Tức, ép hơi thở xuống Kim Đan Sơ kỳ. Ô Thiết Sơn bảo: “Ở đây không ai thấy được ngươi. Giấu làm gì?”
“Thói quen,” hắn đáp.
Ô Thiết Sơn cười lớn. “Thói quen tốt. Tổ tiên Ô Man cũng có thói quen ấy. Giấu lửa trong lòng núi.”
Thanh kiếm đồng, hắn treo trên vách nhà sàn. Những đêm hắn tu luyện bên hồ Tổ Hỏa, nó rung lên trong vỏ da thú Ô Mãng khâu cho, như con chó đánh hơi thấy bếp. Có lần hắn để nó nằm bên mép hồ. Sáng ra, lưỡi kiếm đồng thẫm ánh xanh có thêm một sắc hồng mờ ở sống kiếm. Không thăng phẩm. Chỉ như người ăn no, má hồng hào lên.
Có một lần, họ gặp một con Hỏa Tê.
Nó to như một căn nhà sàn, da đỏ sẫm dày như vỏ cây lim, trên mũi mọc một chiếc sừng đen bóng, mỗi bước đạp xuống, lá mục dưới chân bốc khói. Yêu thú tứ giai, ngang Kim Đan Sơ kỳ. Mười hai chiến sĩ Ô Man vây nó cả buổi chiều, giáo xương gãy bảy cây, hai người bị nó húc văng vào thân cây, gãy xương sườn.
Trường Ca đứng ở vòng ngoài, tay đặt lên chuôi kiếm.
Hắn có thể giết nó bằng một kiếm. Kim Đan Trung kỳ, có Hỗn Độn, có Thiên Diễn Nhãn, một con Hỏa Tê tứ giai chẳng qua là một khúc gỗ lớn. Nhưng nếu hắn giết nó bằng một kiếm, mười hai chiến sĩ này sẽ thấy. Rồi cả bộ lạc sẽ biết. Rồi một ngày nào đó, có một người áo đỏ hay áo trắng đi qua rừng, nghe kể về gã ngoài rừng tóc mai bạc một kiếm giết Hỏa Tê.
Hắn chờ.
Chờ tới khi con Hỏa Tê húc gãy cây giáo thứ tám, đà lao quá mạnh, chân trước bên trái giẫm hụt xuống một hốc rễ. Hắn mới bước vào. Không rút kiếm. Hắn chỉ nhặt cây giáo gãy của một chiến sĩ, dùng sức một Kim Đan Sơ kỳ, đâm vào chỗ nách chân trước bên trái, nơi da mỏng nhất, thớ thịt rối nhất.
Đoạn.
Con Hỏa Tê rống lên, quỵ xuống. Mười hai chiến sĩ ùa vào.
Tối ấy, người Ô Man nướng thịt Hỏa Tê, kể cho nhau nghe chuyện gã Thạch Ca nhặt được một cú may mắn. Ô Mãng ngồi cạnh hắn, gặm một khúc xương, liếc hắn một cái.
“Ngươi chờ nó giẫm hụt,” y nói khẽ.
“Ừ.”
“Ngươi giết được nó từ lúc đầu.”
Trường Ca không đáp.
Ô Mãng gặm xong khúc xương, ném vào lửa. “Hai người gãy sườn,” y nói. “Lần sau, đừng chờ lâu thế.”
Hắn nhìn đống lửa. Lộ ba phần, giấu bảy phần. Giấu là để sống. Nhưng có những lúc, giấu thì có người khác phải gãy xương thay mình.
“Được,” hắn nói.
Đêm rằm tháng Ba năm thứ hai, Ô Man mở lễ Tổ Hỏa.
Cả bộ lạc gần hai nghìn người tụ quanh một đống lửa khổng lồ giữa lòng chảo. Lửa châm bằng một que củi nhúng vào hồ Tổ Hỏa, cháy cả đêm không cần thêm củi. Người ta nướng thịt, uống rượu ngô đựng trong vỏ bầu, đàn ông đấm ngực mà nhảy, đàn bà vỗ tay mà hát.
Rồi tiếng trống ngưng.
Ô Thiết Sơn đứng dậy, chống trượng đầu sọ, đi tới trước đống lửa. Lũ trẻ lập tức chạy tới, ngồi xếp bằng thành vòng tròn quanh chân ông ta.
“Năm nay,” Ô Thiết Sơn nói, “có một người ngoài rừng ngồi đây. Lão phu kể chuyện tổ tiên, cho người ngoài rừng nghe cùng.”
Hắn ngồi ở vòng ngoài, cạnh Ô Mãng. Mấy trăm ánh mắt quay lại nhìn hắn, rồi quay đi.
Ô Thiết Sơn bắt đầu kể.
“Rất lâu, rất lâu về trước. Trước khi có Ô Man. Trước khi có Xích Viêm. Trước khi tu sĩ biết bay trên trời.
“Có một người. Người ấy là phàm nhân. Không linh căn, không công pháp, không pháp bảo. Người ấy làm ruộng, nuôi trâu, đào kênh dẫn nước. Người ấy có một cái làng.
“Một năm, trên trời có những kẻ bay xuống. Những kẻ ấy nói, đất này có linh khí, linh khí phải dâng lên trời. Chúng cắm đinh xuống đất. Đất khô. Sông cạn. Người chết đói.
“Người ấy không chịu. Người ấy đi khắp nơi, gặp từng làng, từng bộ lạc, bảo họ: đất này là của người sống trên đất. Không phải của kẻ trên trời.
“Có người nghe. Có người không nghe. Người nghe, theo người ấy. Càng ngày càng đông. Mười người. Trăm người. Vạn người.
“Rồi kẻ trên trời nổi giận. Chúng gọi nước, dâng lũ, muốn nhấn chìm tất cả.
“Người ấy không có phép thuật. Người ấy chỉ có một cây bút, một tấm lụa. Người ấy ngồi trên đỉnh núi cao nhất, vẽ. Vẽ núi. Vẽ sông. Vẽ ruộng, vẽ nhà, vẽ từng cái giếng, từng gốc cây. Vẽ suốt chín ngày chín đêm, nước lũ dâng tới chân núi, người ấy vẽ nét cuối cùng.
“Rồi người ấy mở tấm lụa ra.
“Vạn người bước vào trong tranh. Sống trong núi sông người ấy vẽ. Lũ dâng ngập cả mặt đất, nhưng không ngập được tấm lụa.
“Lũ rút. Vạn người bước ra. Họ gọi người ấy là Nhân Hoàng. Vua của người.
“Tấm lụa ấy, gọi là Sơn Hà Xã Tắc Đồ.”
Lũ trẻ há hốc miệng. A Diễm giơ tay hỏi: “Rồi Nhân Hoàng đi đâu?”
“Nhân Hoàng già, Nhân Hoàng chết.” Ô Thiết Sơn nói. “Như mọi phàm nhân. Trước khi chết, ngài dặn: chôn ta ở chỗ sâu nhất của núi. Chôn cả Đồ theo. Ai muốn lấy Đồ, phải tự tìm tới. Mà chỉ kẻ không vì mình mới vào được.”
“Tổ tiên Ô Man là dân Nhân Hoàng. Ngài chết rồi, tổ tiên ở lại canh núi, canh lửa. Đời đời không nói cho ai biết lăng ngài ở đâu.”
Ông ta gõ trượng xuống đất ba cái.
“Lão phu biết. Lão phu không nói. Con cháu Ô Man, biết rồi, cũng không nói.”
Lũ trẻ đồng thanh, giọng lanh lảnh: “Không nói!”
Đêm ấy, khi lửa đã tàn, Ô Thiết Sơn ngồi lại bên đống than hồng. Hắn cũng ngồi lại.
“Ngươi nghe thấy gì?” Ô Thiết Sơn hỏi.
“Những kẻ trên trời cắm đinh xuống đất,” Trường Ca nói chậm rãi. “Đất khô, sông cạn.”
Ô Thiết Sơn quay sang nhìn hắn.
“Quê tại hạ,” hắn nói, “có một cái giếng. Hơn mười năm trước, người trên núi xuống cắm bảy cây đinh. Giếng cạn. Núi lở. Cha mẹ tại hạ chết dưới đá.”
Rất lâu, Ô Thiết Sơn không nói gì. Than hồng nổ lách tách.
“Vậy là chúng vẫn làm thế,” ông ta nói. “Từ thời Nhân Hoàng tới giờ. Vạn năm rồi, chúng vẫn làm thế.”
“Chúng là ai?”
“Lão phu không biết.” Ô Thiết Sơn lắc đầu. “Tổ tiên chỉ nói, là kẻ trên trời. Có khi là tu sĩ. Có khi là thứ khác.” Ông ta ngừng lại. “Ngươi có biết vì sao lão phu kể chuyện này đêm nay, trước mặt ngươi không?”
Trường Ca lắc đầu.
“Vì ba bộ lạc đã chết.” Giọng Ô Thiết Sơn trầm xuống. “Thạch Khuyển, Hắc Ngưu, Lam Xà. Cả ba đều là dân Nhân Hoàng. Cả ba đều biết đường vào Cổ Lăng, mỗi bộ biết một đoạn. Có kẻ đã tới từng bộ, bắt chỉ đường. Không ai chỉ. Kẻ ấy đốt từng bộ.”
“Ô Man biết đoạn cuối cùng,” Trường Ca nói.
Ô Thiết Sơn không trả lời. Nhưng ông ta không cần trả lời.
“Kẻ ấy là ai?”
“Liệt Dương.” Ô Thiết Sơn nói, như nhổ ra một cục than. “Đại Trưởng Lão Xích Viêm Tông. Nguyên Anh. Mang một cây kim lửa, đâm xuyên được đá.”
Những lỗ kim tròn đều tăm tắp trên cột cháy ở Thạch Khuyển. Trường Ca nhớ lại.
“Xích Viêm Tông là bá chủ Nam Hoang,” hắn nói. “Tông Chủ của họ…”
“Hồng Thiên Liệt.” Ô Thiết Sơn gật đầu. “Lão phu biết người ấy. Nóng như lửa, nhưng thẳng như giáo. Ba mươi năm trước, Hồng Thiên Liệt đi qua Ô Man, uống rượu với lão phu, thề Xích Viêm không bao giờ động tới dân Nhân Hoàng.” Ông ta nhìn đống than. “Nhưng từ năm ngoái, nghe nói Hồng Thiên Liệt ngã bệnh. Liệt Dương thay mặt lo việc tông. Rồi các bộ lạc bắt đầu cháy.”
“Cổ Lăng ấy, đã có ai tìm tới chưa?” Trường Ca hỏi.
“Có.” Ô Thiết Sơn gật đầu. “Tổ tiên chép lại trên vách hang Tổ Hỏa, mỗi người một vạch. Ba nghìn năm, hơn bốn trăm vạch. Có tu sĩ, có man tộc, có cả những kẻ không rõ từ đâu tới. Họ tìm được cửa lăng, bước vào. Không ai bước ra.” Ông ta nhìn đống than. “Cửa lăng không có cấm chế, không có trận pháp. Chỉ có một câu hỏi. Ai trả lời sai, thì ở lại.”
“Câu hỏi gì?”
“Lão phu không biết. Lão phu chưa vào.” Ô Thiết Sơn cười khan. “Lão phu biết mình vì cái gì. Vì Ô Man. Vì lửa. Vì tổ tiên. Thế cũng là vì mình. Ai biết mình vì mình, thì đừng vào.”
Trường Ca nhìn than hồng, nghĩ tới tấm lụa trong câu chuyện. Một tấm lụa vẽ núi sông, mở ra thì vạn người bước vào, lũ dâng ngập trời cũng không ngập được.
Hắn nghĩ tới ba trăm người Thanh Thạch bị xâu lại như xâu cá.
Nếu hắn có tấm lụa ấy.
Ý nghĩ ấy vừa nảy lên, hắn liền dập tắt nó. Không phải vì nó sai. Mà vì nó quá đúng, đúng tới mức hắn biết, chỉ cần để nó lớn thêm một chút, hắn sẽ muốn tấm lụa ấy cho mình. Mà muốn cho mình, là đã thua câu hỏi kia một nửa.
Một tháng sau, sứ giả tới.
Họ tới vào giữa trưa, ngự kiếm bay thẳng vào lòng chảo, không thèm hạ xuống ở bìa rừng như khách. Ba người. Hai người mặc áo đỏ thêu ngọn lửa vàng, là đệ tử Xích Viêm Tông, một Kim Đan Sơ kỳ, một Trúc Cơ Hậu kỳ. Người thứ ba mặc áo trắng trơn, đứng lùi phía sau, không nói một lời.
Trường Ca đứng lẫn trong đám chiến sĩ Ô Man ở bậc thứ ba, da thú quấn người, tóc đen buộc dây mây, trên mặt vẽ hai vạch đất son như mọi người. Liễm Tức ép xuống chỉ còn như một người phàm.
Người áo đỏ Kim Đan Sơ kỳ lơ lửng trên không, cao giọng:
“Đại Vu Ô Man. Đại Trưởng Lão có lời. Nhân Hoàng Cổ Lăng là di tích thượng cổ, không phải của riêng man tộc. Xích Viêm Tông là chủ Nam Hoang, có trách nhiệm giữ gìn. Ô Man chỉ đường, Xích Viêm sẽ ghi công. Ô Man không chỉ…” Y nhếch mép. “Thạch Khuyển, Hắc Ngưu, Lam Xà, Đại Vu biết cả rồi.”
Ô Thiết Sơn đứng giữa lòng chảo, chống trượng. Ông ta không bay lên. Ông ta chỉ ngẩng đầu.
“Hồng Thiên Liệt đâu?”
“Tông Chủ bệnh nặng.”
“Bệnh gì?”
Người áo đỏ khựng lại nửa nhịp. “Không đến lượt Đại Vu hỏi.”
“Ba mươi năm trước, Hồng Thiên Liệt uống rượu với lão phu, thề Xích Viêm không động tới dân Nhân Hoàng,” Ô Thiết Sơn nói. “Lão phu muốn nghe chính miệng Hồng Thiên Liệt nói lời khác.”
Người áo đỏ cười lạnh.
“Đại Vu không biết sao? Tông Chủ trúng độc, hôn mê đã nửa năm. Kẻ hạ độc, là Thánh Nữ Hồng Liên Diễm, con gái ruột của Tông Chủ. Nàng ta đã bị trục xuất, đang trốn ở Hắc Thủy Thành. Đại Trưởng Lão đã treo thưởng.” Y vung tay áo. “Bây giờ, Xích Viêm do Đại Trưởng Lão làm chủ.”
Trường Ca đứng trong đám chiến sĩ, các ngón tay khẽ siết lại.
Hồng Liên Diễm.
Nàng hạ độc cha mình?
Hắn nhớ tới Huyết Sắc Bí Cảnh. Nhớ tới cô gái áo đỏ ngồi bên vách đá, cổ tay phải đen sạm, kể về một vị sư thúc tổ Xích Viêm chết trong bí cảnh năm xưa, Thiên Cơ Tông đem ba mạch linh thạch bồi thường cho ông nội nàng, thế là xong chuyện. Nhớ tới giọng nói như sấm vọng qua hỏa phù: Con không được nói với ai nữa. Để cha.
Hồng Thiên Liệt đã điều tra. Rồi Hồng Thiên Liệt trúng độc.
Không cần Thiên Diễn Nhãn, hắn cũng nhìn ra thớ gỗ này chạy về đâu.
“Cho Ô Man một tháng.” Người áo đỏ nói. “Một tháng sau, nếu Ô Man không cử người tới Xích Viêm Sơn chỉ đường, Đại Trưởng Lão sẽ đích thân tới.”
Y quay người định đi. Người áo trắng đứng phía sau nãy giờ, bỗng cất tiếng. Giọng y trơn tru, mềm mỏng, là giọng Đông Thắng, không lẫn đâu được.
“Đại Vu, hồ lửa trên núi kia, có từ bao giờ?”
Ô Thiết Sơn nhìn y, không đáp.
Người áo trắng mỉm cười, nhìn làn khói đỏ trên đỉnh núi bằng một lúc lâu. Rồi y đưa tay chạm vào một vật đeo bên hông.
Trường Ca nhìn thấy vật ấy.
Một chiếc hồ lô ngọc bích, to bằng nắm tay, nút gỗ đỏ.
Hơn mười năm trước, ở Thanh Thạch Thôn, hắn đã thấy một chiếc hồ lô y như thế, đeo bên hông Âm Cửu Linh. Âm Cửu Linh rút linh mạch Thanh Thạch, hút vào trong chiếc hồ lô ấy, đậy nút lại, như người ta đậy nút một vò rượu.
Ba người ngự kiếm bay đi. Người áo trắng bay sau cùng, lúc bay qua đỉnh núi bằng, còn ngoái lại nhìn làn khói đỏ thêm một lần.
Trường Ca đứng im trong đám chiến sĩ, nhìn theo vệt kiếm quang trắng nhỏ dần về phía nam.
Hắn đã nghĩ, rời Đông Thắng là rời khỏi bàn cờ của Cổ Huyền. Hóa ra không phải. Bàn cờ ấy rộng hơn hắn tưởng. Những sợi chỉ của nó chạy qua Vạn Chướng Lâm, chạy tới tận Xích Viêm Sơn, chạy vào chiếc hồ lô ngọc bích bên hông một người áo trắng. Thanh Thạch chỉ là một ô trên bàn cờ ấy. Ô Man là một ô khác.
Người áo trắng không biết, ô cờ hắn vừa nhìn qua, có một quân cờ đã từng lọt lưới.
Lòng chảo im lặng hồi lâu.
Rồi tiếng trống da nổi lên, dồn dập. Chiến sĩ Ô Man gầm lên, đấm ngực, giơ giáo. Đàn bà ôm con chạy vào nhà sàn.
Ô Thiết Sơn đứng giữa lòng chảo, không động.
Đêm ấy, hắn vào nhà sàn của Đại Vu.
Ô Thiết Sơn ngồi bên bếp lửa, cây trượng đầu sọ đặt ngang đùi. Râu tóc đỏ rủ xuống, có mấy sợi đã xám từ đợt Hỏa Trì Thối Ấn, chưa đỏ lại.
“Người áo trắng ấy,” Trường Ca nói, “là người của Thiên Cơ Tông.”
“Lão phu đoán thế.”
“Cái hồ lô bên hông y, là thứ để rút linh mạch. Y nhìn hồ Tổ Hỏa, là nhìn một món hàng.”
Ô Thiết Sơn nắm chặt cây trượng. Những vòng tròn đỏ trên ngực ông ta bừng lên một thoáng, rồi tối lại.
“Tổ Hỏa không ai thu được,” ông ta nói. “Nhân Hoàng nói thế.”
“Nhân Hoàng nói thế, vạn năm trước,” Trường Ca nói. “Vạn năm trước, cũng chưa có Thiên Cơ Tông.”
Ô Thiết Sơn im lặng.
“Hồng Liên Diễm không hạ độc cha nàng,” Trường Ca nói tiếp. “Tại hạ từng gặp nàng. Nàng không phải người như thế. Cha nàng đã điều tra Thiên Cơ Tông, vì cái chết của một vị sư thúc tổ năm xưa. Rồi cha nàng trúng độc. Rồi Liệt Dương lên nắm quyền. Rồi các bộ lạc bắt đầu cháy, và có một người áo trắng của Thiên Cơ Tông đứng nhìn hồ Tổ Hỏa.”
Hắn dừng lại.
“Liệt Dương không chỉ muốn Sơn Hà Xã Tắc Đồ.”
Ô Thiết Sơn ngẩng lên. Đôi mắt đỏ như hai hòn than nhìn thẳng vào hắn.
“Ngươi muốn làm gì?”
“Tới Hắc Thủy Thành.” Trường Ca nói. “Tìm Hồng Liên Diễm. Hỏi cho rõ cha nàng trúng độc gì, ai hạ, giải được không. Nếu Hồng Thiên Liệt tỉnh lại, Liệt Dương không còn danh nghĩa. Ô Man không cần đánh một trận với cả Xích Viêm Tông.”
“Một tháng.”
“Đủ.”
Ô Thiết Sơn nhìn hắn rất lâu. Rồi ông ta tháo một chuỗi răng thú trên cổ, ném sang.
“Đeo vào. Ra khỏi rừng, ai thấy chuỗi răng này, biết ngươi là người của Ô Man.” Ông ta quay mặt vào bếp lửa. “Ô Man còn nợ ngươi sáu mươi hai mạng. Đừng chết trước khi lão phu trả xong.”
Trường Ca đeo chuỗi răng thú lên cổ, cạnh chiếc vòng tay xương của đứa trẻ Thạch Khuyển.
Lúc hắn ra tới cửa, Ô Thiết Sơn nói thêm một câu, rất khẽ.
“Thạch Ca. Hồng Liên Diễm ấy, là bạn của ngươi?”
Trường Ca dừng chân. Hắn nghĩ tới đôi mắt như lửa, cái cằm hất lên, giọng nói kiêu ngạo: Lần sau gặp, ta nhất định thắng.
“Là đối thủ,” hắn nói.
Ô Thiết Sơn cười, tiếng cười như đá lăn.
“Đối thủ còn quý hơn bạn. Đi đi.”
Sáng hôm sau, lúc hắn xuống tới bìa rừng, có một đứa trẻ chạy theo.
A Diễm. Nó chạy tới thở hổn hển, tay cầm một cành tre. Nó không nói gì, chỉ ngồi xổm xuống, viết lên mặt đất ẩm một chữ. Một nét dài, một nét ngắn, tựa vào nhau.
Chữ “nhân”.
Rồi nó ngẩng lên nhìn hắn.
“Thạch Ca về nhé,” nó nói bằng tiếng cổ, giọng lanh lảnh. “Về, rồi dạy A Diễm chữ thứ tư.”
Trường Ca ngồi xuống, nhìn chữ “nhân” trên đất. Nét ngắn hơi xiêu, nhưng vẫn tựa được vào nét dài.
“Ừ,” hắn nói. “Về.”
Hắn đã hứa với một cái giếng cạn là sẽ về. Hứa với một thằng mập ở Đông Thắng là mười năm. Bây giờ, hứa thêm với một đứa bé man tộc sáu tuổi. Những lời hứa ấy chồng lên nhau, nặng dần. Nhưng lạ thay, càng nặng, bước chân hắn lại càng vững.
Hắn đứng dậy, quay lưng đi vào Vạn Chướng Lâm, hướng về phía nam, nơi có một tòa thành tên là Hắc Thủy.
Muốn biết hậu sự thế nào, xin xem hồi sau phân giải.