Chương 65: Chính Đạo Hội Minh
Thiên Xu điện thượng hội quần tiên, Hỷ trướng hồng đăng trấn sát duyên. Sư mệnh nhất ngôn băng tâm toái, Hồng y khinh trứ lệ vô huyền.
Tháng Bảy, mưa dầm.
Mưa phủ kín Thiên Cơ Sơn suốt nửa tháng, không lúc nào ngớt. Những dãy đèn lồng đỏ treo dọc hành lang Thiên Xu Đại Điện ướt sũng, giấy đỏ ngả sang màu thâm như máu đọng, nến bên trong phải thay ba lần mỗi đêm. Đệ tử tạp dịch trèo thang lên thay nến, xuống thang thì ướt tới tận xương.
Không ai dám tháo đèn xuống. Tông Chủ chưa có lệnh.
Mùng chín tháng Bảy, chuông Thiên Xu Đại Điện gõ chín tiếng.
Chín tiếng chuông ấy vang đi giữa mưa, không còn trong trẻo như ngày đại lễ đính hôn mười một năm trước. Nó đục và nặng, như bị nước mưa thấm vào trong đồng. Nhưng nó vẫn đi xa. Đi qua Thanh Vân Phường Thị. Đi qua Hạ Khê. Đi tới tận những tông môn nhỏ ở phía đông Đông Thắng, ở phía bắc, ở bờ biển phía nam.
Ba ngày sau, những phi chu đầu tiên đáp xuống quảng trường đá trước Thiên Xu Đại Điện.
Thanh Hà Kiếm Phái tới trước, ba mươi người, áo xanh nước biển. Bách Thảo Cốc tới sau, hai mươi người, ai cũng đeo một cái giỏ thuốc nhỏ bên hông. Rồi Lạc Vân Tông, rồi Thiết Bích Môn, rồi Ngọc Hư Quán, rồi mười mấy tông môn nhỏ mà tên của họ chỉ những người sống quanh chân núi của họ mới biết. Cuối cùng, vào chiều mùng mười hai, một chiếc phi chu trắng muốt như ngọc, mui thuyền khắc sen chín cánh, lặng lẽ đáp xuống ở góc đông quảng trường.
Dao Trì Thánh Địa.
Bích Lạc Tiên Tử bước xuống trước, áo trắng trơn, tóc đen dài buông tới gót, bước không chạm đất. Mỗi bước, dưới chân bà nở ra một đóa sen trắng rồi tan, ngay cả trong mưa. Sau lưng bà, mười hai nữ đệ tử Dao Trì áo trắng đi thành hai hàng.
Và giữa hai hàng ấy, một người con gái áo trắng, không che ô, để mưa rơi lên tóc mà tóc không ướt.
Mộ Dung Thanh Tuyết.
Mười một năm, nàng không thay đổi mấy. Vẫn gương mặt lạnh như sương tuyết. Vẫn đôi mắt nhìn thẳng về phía trước, không nhìn ai. Chỉ có khí tức của nàng là khác. Nguyên Anh Sơ kỳ, sau tám năm diện bích trong Hàn Băng Động, hàn khí quanh người nàng đặc tới mức những hạt mưa rơi vào cách vai nàng ba tấc đều đông lại thành những hạt băng nhỏ, lăn xuống đất lách tách.
Đứng trong hàng đệ tử chân truyền Thiên Cơ Tông ra đón khách ở chân bậc đá, Tạ Thiên Phong nhìn nàng đi qua. Ngực y vẫn còn băng, dưới lớp áo trắng viền lam. Hai cái xương sườn chưa liền hẳn.
Nàng đi qua y. Lần này, nàng không dừng lại.
Hội Minh mở vào sáng mười ba.
Thiên Xu Đại Điện chật kín người. Hai mươi bảy tông môn, hơn ba trăm tu sĩ, ngồi thành hai dãy dài trên những bồ đoàn bằng gấm. Ở đầu điện, trên bậc ngọc chín cấp, là ngai Tông Chủ Thiên Cơ Tông. Ngai còn trống. Bên trái ngai, một cái ghế bằng gỗ trầm đặt riêng cho Bích Lạc Tiên Tử. Bên phải ngai, một cái ghế thấp hơn, cho Thánh Tử.
Triệu Vô Cực ngồi trên ghế ấy.
Kim quan. Bào chín rồng. Đai vàng nạm chín hồng ngọc. Y vẫn tuấn tú như mười một năm trước, nhưng gương mặt gầy đi, hai gò má hõm xuống. Trong khóe mắt y, những sợi gân máu nhỏ như tơ chằng chịt, đỏ như những đường nứt trên một cái chén men. Khí tức của y dao động, lúc cao lúc thấp, như ngọn nến trước gió.
Người tinh mắt trong điện đều nhìn ra. Thánh Tử đã lên Nguyên Anh. Nhưng Nguyên Anh ấy chưa vững.
Ba ngày sau đêm Huyết Lao trống rỗng, Cổ Huyền đã cho người cạo sạch huyết tinh trên vách chín tầng Huyết Khoáng. Chín năm máu người kết lại, cạo được ba trăm cân. Lão tự tay luyện thành một viên đan đỏ thẫm, to bằng quả nhãn, không thành hình tròn, lồi lõm như một cục máu đông. Huyết Đan dở dang. Triệu Vô Cực nuốt nó trong một đêm. Sáng hôm sau, y phá Nguyên Anh. Nhưng từ đó, đêm nào y cũng thấy những khuôn mặt. Đan dở thì Anh không vững. Muốn vững, cần Thái Âm.
Trong hàng ghế của Dao Trì, Mộ Dung Thanh Tuyết ngồi ngay sau sư tôn, mắt nhìn xuống nền ngọc.
Ở góc tây đại điện, gần cột trụ cuối cùng, có một người ngồi một mình.
Áo trắng ánh xanh như băng mỏng. Tóc búi gọn, cài một cây trâm băng trong suốt. Gương mặt bình thản, không già không trẻ. Trước mặt người ấy không có bồ đoàn gấm, chỉ có một tấm đệm cói mang theo. Trên đùi đặt một tấm ngọc giản màu xanh băng và một cây bút băng. Người ấy không nói chuyện với ai. Thỉnh thoảng, người ấy nhìn lên, rồi cúi xuống, ngòi bút băng lướt trên ngọc giản, để lại những vệt chữ mờ như hơi thở trên kính.
Lạc Băng Tâm. Sứ giả Huyền Băng Cung, từ Bắc Minh vạn dặm tới. Nguyên Anh. Huyền Băng Cung chưa bao giờ dự Hội Minh của Đông Thắng. Họ được mời. Họ không nhận lời. Họ chỉ cử một người tới, ngồi ở góc, ghi.
Tiếng chuông vang lên một tiếng.
Ngai Tông Chủ trên bậc ngọc, không biết từ lúc nào, đã có người ngồi.
Cổ Huyền Chân Nhân không già hơn mười một năm trước. Vẫn đạo bào trắng, vẫn phất trần, vẫn gương mặt hiền hòa như một lão tiên ông trong tranh. Chỉ có đôi mắt. Đôi mắt ấy đã từng ôn hòa, trầm ấm. Bây giờ nó sâu như hai cái giếng không có đáy, và khi nó nhìn xuống đại điện, ba trăm tu sĩ có cảm giác như mình đang đứng trên miệng giếng ấy.
Lão không đứng dậy. Lão chỉ nâng phất trần lên.
Trên không trung giữa đại điện, một bức tranh ánh sáng hiện ra.
Thung lũng Thanh Thạch. Những đống lửa trên sườn đồi. Những túp lều cành thông. Biển người. Và giữa thung lũng, bên một cái giếng cạn, một người đàn ông áo vải nâu, tay bốc lên làn khí xám như khói.
“Chư vị đạo hữu,” Cổ Huyền nói. Giọng lão vẫn ôn hòa, vẫn trầm ấm. “Người này, chư vị đã thấy bảng truy nã. Ma đầu Hỗn Độn.”
Tiếng xì xào chạy qua đại điện.
“Chín năm trước, hắn là đệ tử nội môn của bổn tông. Lấy tà pháp Hỗn Độn ăn trộm linh khí, giết đồng môn, trốn khỏi Sinh Tử Đài. Sáu năm trước, hắn xuất hiện ở Nam Hoang, gây ra hỏa bạo Cửu U, Xích Viêm Tông mất một vị Trưởng Lão. Hai tháng trước, hắn về Đông Thắng.”
Phất trần khẽ phẩy. Bức tranh ánh sáng chuyển. Huyết Lao. Chín tầng chuồng sắt trống trơn, song sắt cong vẹo.
“Mười năm nay, Thập Bát Châu có huyết ôn. Bệnh lây qua máu, phàm nhân chết như rạ. Bổn tông không đành lòng, mở hầm cũ dưới núi, thu dưỡng mười vạn lưu dân, mỗi ngày trích huyết độc ra cho họ, đợi đủ ngày thì luyện một trận Đại Tế, tịnh hóa huyết ôn cho cả Đông Thắng.”
Ở góc tây, cây bút băng của Lạc Băng Tâm khựng lại một nhịp. Rồi lướt tiếp.
“Một đêm, ma đầu đột nhập, giết Âm Trưởng Lão, cướp đi mười vạn người ấy. Hắn dùng một món ma bảo, giam họ vào trong. Đưa về một cái thôn bỏ hoang. Bây giờ, hắn gọi họ là Phàm Nhân Minh. Hắn dạy họ rằng tu sĩ là kẻ thù. Hắn dạy họ không nộp Linh Cống. Hắn dạy họ rằng chính đạo Đông Thắng đã nuôi họ làm đan.”
Cổ Huyền thở dài. Một tiếng thở dài rất dài, rất buồn.
“Mười vạn phàm nhân mang huyết ôn trong người. Một kẻ có Hỗn Độn Linh Căn đứng giữa họ. Chư vị đạo hữu, chư vị nghĩ xem, đó là cái gì?”
Trong đại điện, không ai trả lời.
“Đó là một cái lò,” Cổ Huyền nói khẽ. “Một cái lò luyện ma, lớn nhất Đông Thắng trong ba nghìn năm.”
Tiếng xì xào nổi lên như sóng. Có người đứng bật dậy. Thanh Hà Kiếm Phái, Thiết Bích Môn, Ngọc Hư Quán, mấy vị chưởng môn đã đỏ mặt tía tai. Có người lắc đầu. Bách Thảo Cốc, Lạc Vân Tông, mấy tông nhỏ ở phía đông, nhìn nhau, không nói gì. Họ đã nghe về Huyết Lao. Họ đã nghe về những đoàn áp giải. Họ không dám hỏi.
Một lão giả râu bạc của Bách Thảo Cốc chậm rãi đứng dậy.
“Tông Chủ,” lão nói, giọng run nhưng rõ. “Bách Thảo Cốc chữa bệnh ba trăm năm. Lão phu chưa từng nghe một thứ huyết ôn nào phải trích máu chín năm mới tịnh hóa.”
Đại điện lặng đi.
Cổ Huyền nhìn lão giả ấy. Không giận. Không cười. Chỉ nhìn.
Một nhịp. Hai nhịp.
Lão giả Bách Thảo Cốc ngồi xuống. Gương mặt trắng bệch. Hai tay đặt trên đùi run lên không ngừng.
“Đạo hữu chưa nghe,” Cổ Huyền nói ôn hòa, “là vì chưa từng gặp.”
Không ai đứng dậy nữa.
“Mười ngày nữa,” Cổ Huyền nói, “chính đạo Đông Thắng xuất quân. Bổn tọa sẽ đích thân dẫn đầu. Thiên Cơ Đại Trận sẽ theo bổn tọa xuống núi. Ma minh ấy, phải nhổ tận gốc.” Lão dừng lại, ánh mắt lướt qua ghế của Bích Lạc Tiên Tử, rồi lướt qua ghế Thánh Tử. “Có điều, trước khi xuất quân, bổn tông có một việc vui.”
Lão mỉm cười.
“Đêm trước ngày xuất quân, Thánh Tử của bổn tông và Thánh Nữ Dao Trì sẽ thành hôn ngay tại Thiên Xu Đại Điện này. Hôn thư đã định mười một năm, nay mới đủ ngày. Chính đạo Đông Thắng ra quân, cần một việc hỷ để trấn sát khí. Lấy hỷ trấn sát. Chư vị đạo hữu ở lại uống chén rượu mừng, rồi cùng xuống núi.”
Tiếng chúc tụng vang lên. Thưa thớt trước, rồi đông dần, rồi rộn ràng.
Triệu Vô Cực ngồi trên ghế của y, không cười. Ánh mắt đỏ gân máu của y không nhìn Cổ Huyền, không nhìn khách. Nó nhìn qua đại điện, dừng lại trên một người con gái áo trắng ngồi sau Bích Lạc Tiên Tử.
Mộ Dung Thanh Tuyết vẫn nhìn xuống nền ngọc. Không ngẩng đầu. Không cử động.
Chỉ có những hạt băng nhỏ lăn xuống từ vai nàng, nhiều hơn lúc nãy.
Ở góc tây, Lạc Băng Tâm viết một dòng ngắn, rồi khép ngọc giản lại.
Nếu có ai đứng sau lưng nàng lúc ấy, sẽ đọc được những dòng chữ mờ như hơi thở trên kính:
Mười ba tháng Bảy. Thiên Xu Đại Điện. Hai mươi bảy tông. Cổ Huyền nói: huyết ôn, thu dưỡng, tịnh hóa. Bách Thảo Cốc hỏi một câu. Cổ Huyền nhìn hai nhịp. Bách Thảo Cốc ngồi xuống. Không ai hỏi nữa.
Thánh Tử: Nguyên Anh Sơ, khí phù, mắt có huyết ti. Đan dở.
Thánh Nữ Dao Trì: băng rơi từ vai nhiều hơn khi nghe hai chữ thành hôn.
Lấy hỷ trấn sát. Chưa từng thấy.
Hội Minh tan vào giờ Mùi.
Khách khứa lần lượt rời đại điện, theo những hành lang treo đèn lồng đỏ về các quán khách. Đoàn Dao Trì đi sau cùng. Tới khúc quanh hành lang phía đông, nơi có một cây tùng già vươn cành qua lan can đá, một người đứng chắn giữa lối.
Triệu Vô Cực.
Y đã thay bào chín rồng bằng một bộ trường sam trắng. Không đeo kim quan. Những sợi gân máu trong khóe mắt y dưới ánh đèn lồng đỏ trông càng rõ.
Mười hai nữ đệ tử Dao Trì dừng lại. Bích Lạc Tiên Tử đã đi trước, không quay lại. Mộ Dung Thanh Tuyết đứng yên.
“Thánh Nữ,” Triệu Vô Cực nói. Giọng y khàn. “Mười một năm. Ta chưa từng được nói với nàng quá mười câu.”
“Thánh Tử muốn nói câu thứ mười một?”
Triệu Vô Cực nhìn nàng. Có một lúc, trong đôi mắt đỏ gân máu ấy hiện lên một thứ gì đó rất giống một người thiếu niên mười bảy tuổi đứng trên Thiên Xu Phong ngày Trúc Cơ Yến, kiêu ngạo và cô độc.
“Ở đại lễ đính hôn, nàng nâng chén rượu, nhìn một tên đệ tử nội môn lâu tới mức cháy hết một đốt hương.” Y nói. “Nàng nghĩ ta không thấy?”
Mộ Dung Thanh Tuyết không đáp.
“Hắn bây giờ là ma đầu. Mười ngày nữa, ta sẽ chém đầu hắn bên cái giếng cạn ấy.” Triệu Vô Cực bước tới một bước. “Đêm trước đó, nàng là thê tử của ta.”
“Thánh Tử,” Mộ Dung Thanh Tuyết nói, “tránh đường.”
Triệu Vô Cực đứng im một lúc. Rồi y nghiêng người, nhường lối. Khi nàng đi qua, y nói thêm, rất khẽ, như nói với chính mình:
“Ta không cần nàng nhìn ta. Ta chỉ cần nàng đứng cạnh ta.”
Những hạt băng nhỏ lăn xuống từ vai nàng, rơi lách tách trên nền đá, dọc theo hành lang.
Đêm ấy, ở Nghênh Tiên Quán, mưa vẫn rơi.
Gian phòng của Thánh Nữ Dao Trì ở tầng trên cùng, cửa sổ nhìn ra rừng tùng sau núi. Không đèn. Mộ Dung Thanh Tuyết ngồi xếp bằng trên giường ngọc, mắt nhắm. Lãnh Nguyệt Kiếm nằm ngang trên đầu gối nàng, vỏ kiếm phủ một lớp sương mỏng.
Cửa phòng mở ra không một tiếng động.
Bích Lạc Tiên Tử bước vào. Sau lưng bà, hai nữ đệ tử Dao Trì nâng một cái khay gỗ đàn hương. Trên khay là một bộ y phục gấp gọn. Màu đỏ. Đỏ thắm như máu tươi, như lửa, như những ngọn đèn lồng ướt mưa ngoài hành lang. Trên vải đỏ, chỉ vàng thêu một đôi loan phượng giao cổ.
Hai nữ đệ tử đặt khay xuống, cúi đầu, lui ra. Cửa phòng khép lại.
Bích Lạc Tiên Tử nhìn đồ đệ của mình. Trong bóng tối, ánh sáng nhàn nhạt như sương quanh người bà là thứ duy nhất soi được gian phòng.
“Thử đi,” bà nói. Giọng như nước suối trên đá lạnh.
Mộ Dung Thanh Tuyết mở mắt ra. Nàng nhìn bộ hồng y trên khay. Rồi nhìn sư tôn.
“Sư tôn,” nàng nói. “Đệ tử không mặc.”
Bích Lạc Tiên Tử không ngạc nhiên. Bà đi tới bên cửa sổ, nhìn ra rừng tùng ướt mưa.
“Mười một năm trước, khi Cổ Huyền đạo hữu đặt hôn thư, ngươi không nói không. Chín năm trước, ngươi dùng Nguyệt Hoa Độn Trận cứu một tên đệ tử phản tông ngay trước mặt hai Hóa Thần. Ta phạt ngươi diện bích. Ngươi không oán. Bây giờ, ngươi nói không.” Bà quay lại. “Vì sao?”
Mộ Dung Thanh Tuyết không trả lời.
“Vì tên ma đầu ở Thanh Thạch?”
“Không phải.” Mộ Dung Thanh Tuyết nói. Giọng nàng vẫn lạnh, vẫn đều. “Đệ tử không mặc, vì đệ tử không muốn gả. Thế thôi.”
Bích Lạc Tiên Tử nhìn nàng một lúc lâu. Rồi bà khẽ cười. Một nụ cười rất nhạt, như sương trên mặt hồ.
“Thanh Tuyết. Ngươi nghĩ, vì sao Dao Trì nuôi ngươi?”
Mộ Dung Thanh Tuyết hơi khựng lại.
“Năm ngươi ba tuổi, ta tìm thấy ngươi trong một cái làng ở phía bắc. Cha mẹ ngươi chết vì đói. Ngươi ngồi trong tuyết, tuyết xung quanh ngươi không tan. Ta thấy Thái Âm Tiên Thể. Ta mang ngươi về.” Bích Lạc Tiên Tử nói chậm, như đọc một cuốn sổ. “Hai mươi bảy năm, Dao Trì cho ngươi Thiên phẩm công pháp, cho ngươi Lãnh Nguyệt Kiếm, cho ngươi Hàn Băng Động, cho ngươi cái danh Đông Thắng Đệ Nhất Thiên Kiêu. Ngươi nghĩ, Dao Trì cho không?”
“Đệ tử biết ơn sư tôn.”
“Biết ơn thì không cần.” Bích Lạc Tiên Tử lắc đầu. “Ta không cần ngươi biết ơn. Ta cần ngươi mặc bộ áo này.”
Bà đi tới bên khay gỗ, đặt ngón tay lên đôi loan phượng thêu chỉ vàng.
“Thái Âm Tiên Thể, ngàn năm mới có một. Dương khí đi vào, âm khí của nó hòa được, dương khí ấy sẽ thành tinh thuần nhất thiên hạ. Thánh Tử Thiên Cơ Tông nuốt một viên Huyết Đan, phá Nguyên Anh, nhưng Anh chưa vững. Đêm tân hôn, y song tu với ngươi. Âm khí Thái Âm của ngươi sẽ hòa hết cái dở dang của viên đan. Anh y sẽ vững. Y sẽ thành Nguyên Anh Trung kỳ, có lẽ Hậu kỳ, trong một đêm.”
Mộ Dung Thanh Tuyết ngồi im. Rất lâu.
“Còn đệ tử?”
“Âm khí cạn,” Bích Lạc Tiên Tử nói, giọng không đổi. “Nếu ngươi chịu được, ngươi sống, tu vi mất hết, thành phàm nhân. Dao Trì sẽ nuôi ngươi tới già. Nếu không chịu được…” Bà không nói tiếp.
“Lô đỉnh,” Mộ Dung Thanh Tuyết nói. Hai chữ ấy ra khỏi miệng nàng rất khẽ, như hai mảnh băng rơi xuống nền đá.
“Phải.”
“Sư tôn đổi được gì?”
Bích Lạc Tiên Tử nhìn đồ đệ. Có lẽ, trong khoảnh khắc ấy, bà đã cân nhắc có nên nói dối không. Nhưng Hóa Thần thì không cần nói dối với một Nguyên Anh.
“Ba thành Linh Cống của Đông Thắng, trong mười năm, về Dao Trì.” Bà nói. “Ba thành linh mạch, ba thành trẻ linh căn của ba mươi bảy thôn, của Thập Bát Châu. Dao Trì sẽ có thêm hai Hóa Thần trong trăm năm tới. Có lẽ ba.” Bà ngừng một nhịp. “Thanh Tuyết, ngươi là Thánh Nữ Dao Trì. Ngươi là của Dao Trì.”
Gian phòng lặng đi.
Ngoài cửa sổ, mưa rơi trên rừng tùng. Một cành tùng nặng nước gãy rắc một tiếng, rơi xuống.
Trên đầu gối Mộ Dung Thanh Tuyết, lớp sương trên vỏ Lãnh Nguyệt Kiếm chợt dày lên, đông lại thành băng. Băng lan ra, bò lên tay nàng, bò lên giường ngọc, bò lên vách tường. Chén trà trên bàn cạnh giường đông cứng, rồi nứt toác thành mấy mảnh, không một tiếng động.
Bích Lạc Tiên Tử nhìn lớp băng đang bò tới chân mình. Bà không lùi. Một đóa sen trắng nở dưới chân bà, lớp băng dừng lại ở mép cánh sen.
“Thanh Tuyết.”
Lớp băng ngừng lan.
Mộ Dung Thanh Tuyết nhắm mắt lại. Khi mở ra, đôi mắt nàng không còn gì. Không giận. Không đau. Như một mặt hồ đã đông cứng tới tận đáy.
“Đệ tử hiểu rồi,” nàng nói.
Nàng đứng dậy, bước tới bên khay gỗ. Đưa tay chạm vào bộ hồng y. Vải lụa đỏ, mát, mềm. Đôi loan phượng chỉ vàng giao cổ dưới đầu ngón tay nàng.
“Đệ tử sẽ mặc.”
Bích Lạc Tiên Tử nhìn nàng thêm một nhịp. Rồi bà gật đầu, quay người, đi ra cửa. Tới bậc cửa, bà dừng lại, không quay đầu.
“Hôn thư ở trong hộp ngọc trên lầu chín tầng. Đêm hôn lễ, Cổ Huyền đạo hữu sẽ đọc trước quần hùng. Ngươi đứng nghe là được.” Bà ngừng một chút. “Thanh Tuyết. Ta nuôi ngươi hai mươi bảy năm. Ta không muốn ngươi chết.”
Cửa phòng khép lại.
Mộ Dung Thanh Tuyết đứng một mình trong gian phòng tối.
Băng trên vách tường tan dần, nhỏ nước xuống sàn tí tách, lẫn vào tiếng mưa ngoài cửa sổ.
Nàng không mặc hồng y ngay. Nàng ngồi xuống mép giường, đưa tay vào ống tay áo trái.
Từ trong ống tay áo, nàng lấy ra một mảnh vải gấp làm tư. Vải thô, màu xanh nhạt đã bạc, loại vải may áo đệ tử ngoại môn Thiên Cơ Tông. Trên mặt vải, những vết máu cũ đã khô thành màu nâu sẫm, cứng lại, giòn như lá khô.
Mười hai năm trước. Một cái bí cảnh đang sập. Một tên đệ tử ngoại môn mười tám tuổi đứng chắn trước nàng, đỡ một cái trảo, máu chảy ướt ngực. Nàng xé vạt áo trước của hắn để lau máu. Rồi nàng gấp mảnh vải ấy lại, làm tư, cất vào tay áo. Hắn không biết.
Mười hai năm. Nàng chưa từng mở nó ra.
Bây giờ nàng cũng không mở. Nàng chỉ nắm nó trong lòng bàn tay, ngồi đó, rất lâu. Lòng bàn tay trái của nàng có một vết sẹo mảnh, vết rạch năm nào bằng Lãnh Nguyệt Kiếm để mở Nguyệt Hoa Độn Trận. Mảnh vải nằm ngay trên vết sẹo ấy.
Ngoài cửa, có tiếng gõ nhẹ. Ba tiếng.
“Ai?”
“Tạ Thiên Phong.” Giọng nói ngoài cửa trầm và thấp. “Tối nay đệ tử gác Nghênh Tiên Quán.”
Mộ Dung Thanh Tuyết nhìn cánh cửa. Rồi nàng đứng dậy, bước tới, nhưng không mở cửa. Nàng đứng sau cánh cửa, cách nhau một lớp gỗ.
“Tạ chân truyền,” nàng nói. “Nửa năm trước, ta hỏi ngươi một câu.”
“Thánh Nữ hỏi, có tin gì của người ở Nam Hoang không.”
“Ngươi nói không.”
“Lúc ấy là không.”
Mộ Dung Thanh Tuyết im lặng một lúc.
“Bây giờ?”
Bên kia cánh cửa, Tạ Thiên Phong cũng im lặng. Rồi y nói, rất khẽ, khẽ tới mức tiếng mưa gần như át mất:
“Hắn không còn ở Nam Hoang nữa. Hắn ở Thanh Thạch. Cái thôn có giếng cạn.” Y ngừng một nhịp. “Đêm hôn lễ, xin Thánh Nữ nhìn lên trời.”
Tiếng bước chân đi xa dần trên hành lang.
Mộ Dung Thanh Tuyết đứng sau cánh cửa rất lâu.
Rồi nàng quay lại, bước tới bên khay gỗ. Nàng cởi áo trắng. Nàng mặc hồng y vào. Lụa đỏ, mát, mềm, ôm lấy người nàng. Đôi loan phượng chỉ vàng giao cổ trên ngực nàng.
Nàng cầm mảnh vạt áo gấp tư, cất vào ống tay áo trái của bộ hồng y.
Rồi nàng cầm Lãnh Nguyệt Kiếm lên. Kiếm không đeo được bên ngoài hồng y. Nàng niệm một câu quyết, thân kiếm thu nhỏ lại như một cây trâm bạc, ánh trăng lạnh lẽo chảy dọc thân trâm. Nàng cài nó lên búi tóc, sau đóa sen băng.
Nàng đứng trước tấm gương đồng.
Trong gương, một người con gái mặc hồng y, đẹp tới mức ngọn nến cũng phải lặng đi. Gương mặt ấy không cười. Đôi mắt ấy không có gì.
Ngoài cửa sổ, mưa dầm tháng Bảy vẫn rơi. Những dãy đèn lồng đỏ dọc hành lang Thiên Xu Đại Điện vẫn sáng, đỏ thâm như máu đọng.
Còn chín ngày nữa thì tới đêm hôn lễ.
Muốn biết hậu sự thế nào, xin xem hồi sau phân giải.