Chương 73: Ngũ Vực Đại Loạn
Ma triều tây khởi yểm hoàng sa, Thiên Đô bế hộ tỏa yên hà. Tiên nhân cao ngọa kim thành lý, Bạch cốt thành sơn tại thử gia.
Tháng Ba, ma triều tràn khỏi Lưu Sa Hải.
Tin tức tới Thanh Thạch theo những con đường mà Đa Đa đã mất chín năm để dựng. Trạm truyền tin Vạn Bảo Lâu. Hành thương gánh muối. Những người đưa thư của Phàm Nhân Minh, đi bộ, cưỡi lừa, chèo thuyền, chuyền tay nhau từng ống tre bịt sáp từ thôn này sang thôn khác. Phàm nhân không ngự kiếm được. Nhưng phàm nhân có chân, và có rất nhiều người.
Đa Đa dán một tấm bản đồ lên vách nhà gỗ. Tấm bản đồ lớn bằng cả bức vách, vẽ Ngũ Vực bằng mực tàu: Đông Thắng ở phía đông, Nam Hoang ở phía nam, Trung Châu ở giữa, Bắc Minh ở phía bắc, Tây Mạc ở phía tây. Mỗi sáng, khi ống tre mới tới, y cầm một cây bút lông chấm son đỏ, tô lên những cái tên.
Tháng Ba, y tô đỏ mười hai cái tên ở Tây Mạc. Những ốc đảo. Những thành đất. Những bộ lạc du mục mà Trường Ca chưa từng nghe tên.
Tháng Tư, y tô thêm ba mươi tư cái tên. Vệt đỏ bò ra khỏi Tây Mạc, chia làm hai nhánh. Nhánh bắc hướng về Trung Châu. Nhánh nam hướng về Nam Hoang.
Tháng Năm, y tô thêm chín mươi mốt cái tên. Rồi y đặt bút xuống.
“Không đủ son,” y nói.
Trường Ca đứng trước tấm bản đồ, nhìn vệt đỏ. Nó không giống vệt mực. Nó giống một vết thương đang mưng mủ, lan ra từ một điểm ở giữa Tây Mạc.
“Bao nhiêu người?” hắn hỏi.
Đa Đa mở cuốn sổ. Y đã ghi chép mọi thứ, như y vẫn ghi chép mọi thứ. Tên thành, tên làng, số hộ, số người. Những con số y lấy từ sổ hộ tịch của Vạn Bảo Lâu, thứ mà Vạn Bảo Lâu dùng để tính xem mỗi nơi mua được bao nhiêu muối.
“Ba tháng,” y nói. “Theo sổ muối. Hai trăm mười vạn.”
Trong nhà gỗ, không ai nói gì.
Tạ Thiên Phong ngồi ở góc phòng, tay áo trái buộc túm. Y đã gần năm mươi, tóc đã có sợi bạc, nhưng lưng vẫn thẳng. Hà Trưởng Lão ngồi bên cạnh y, già hơn nữa, chống một cây gậy trúc. Ô Mãng đứng ở cửa. Y từ Nam Hoang lên mười ngày trước, mang theo thư của Ô Thiết Sơn và một cái túi da đựng đất đỏ Nam Hoang.
Thư của Ô Thiết Sơn viết bằng thứ chữ mà Trường Ca đã dạy bọn trẻ Ô Man trên cát hai mươi năm trước. Nét to, nét vụng, nhưng không run. Ma vật tới rìa Vạn Chướng Lâm. Chướng khí không cản được chúng. Chúng ăn cả chướng khí. Ô Man không lùi. Nhà ở sau lưng. Nhà không ghi sổ, nên không cần ngươi trả. Nhưng ngươi tới thì lão phu mừng. Ở cuối thư có thêm một dòng, nét chữ khác, mảnh và sắc như ngọn lửa: Xích Viêm giữ Hỏa Vực Thành. Ta Hóa Thần rồi. Đừng có chết trước ta. Hồng.
Trường Ca đã đọc lá thư ấy ba lần. Rồi hắn cất nó vào ngực áo, cạnh năm mảnh cổ giản.
“Không phải chết,” Đa Đa nói thêm, giọng rất khẽ. “Mất. Như Tu Di. Không có xác. Hành thương Vạn Bảo Lâu nói, ma triều đi qua chỗ nào, chỗ ấy không còn người, không còn xác, không còn nhà. Chỉ còn đất. Ma vật giết người. Rồi cái đỉnh trên lưng Ma Tôn hút sạch. Cả hồn lẫn xác.”
“Ma Tôn ở đâu?”
“Không ai biết. Có người thấy hắn ở rìa Trung Châu. Có người thấy ở Tây Mạc. Hắn không đánh. Hắn chỉ đi phía sau ma triều. Chỗ nào ma triều giết xong, hắn đi qua, đặt cái đỉnh xuống, rồi đi tiếp.” Đa Đa gấp sổ lại. “Như người đi mót lúa sau khi gặt.”
Trường Ca nhìn vệt đỏ trên bản đồ thêm một lúc. Rồi hắn hỏi:
“Chính đạo đâu?”
Chính đạo ở Thiên Đô.
Thiên Đô là thành lớn nhất thiên hạ, nằm giữa Trung Châu, trên một bình nguyên bằng phẳng mà người ta gọi là Rốn Trời. Tường thành cao trăm trượng, dài ba trăm dặm, xây bằng đá thanh cương trộn tinh thạch. Trong thành có ba trăm vạn người. Trên tường thành, Vạn Tiên Hộ Thành Trận dệt thành một lớp màn vàng mỏng úp lên toàn bộ thành, đẹp như một cái chuông thủy tinh dát vàng. Vạn năm nay, trận ấy chưa từng bị phá.
Tháng Tư, khi tin Tu Di mất tới Thiên Đô, Thiên Đô mở hội.
Hội đặt ở Vạn Tiên Các, tòa lầu cao nhất giữa thành. Tới dự có Dao Trì, có tàn dư Thiên Cơ Tông, mười một tông chính đạo Đông Thắng, hai mươi bảy tông Trung Châu, và mấy vị đại thế gia. Huyền Băng Cung không tới. Xích Viêm Tông không được mời. Vạn Bảo Lâu gửi một vị chưởng quỹ ngồi ở góc, ghi chép, không nói.
Bích Lạc Tiên Tử ngồi ghế đầu.
Mười lăm năm, nàng không thay đổi. Vẫn áo trắng trơn. Vẫn tóc đen buông dài tới gót. Vẫn không rõ tuổi. Chỉ có đôi mắt, khi nhìn xuống những tông chủ đang tranh cãi bên dưới, lạnh hơn trước một chút.
“Ma Tôn là Đại Thừa,” một vị tông chủ Trung Châu nói, giọng run. “Đại Thừa Đại Viên Mãn. Khổ Độ Thiền Sư Luyện Hư mà chết dưới một ngón tay. Trong thiên hạ bây giờ, không ai là đối thủ của hắn.”
“Vạn Tiên Hộ Thành Trận là đối thủ của hắn,” một người khác nói. “Vạn năm chưa phá.”
“Vạn năm trước, Ma Tôn bị phong ấn bởi chư tiên. Không phải bởi trận.”
“Bây giờ không có chư tiên.”
“Vậy thì có trận.”
Cãi nhau từ sáng tới trưa. Từ trưa tới chiều. Không ai đề nghị xuất quân. Không ai đề nghị liên minh. Không ai nhắc tới những thành, những làng đang bị tô đỏ trên bản đồ.
Lúc mặt trời lặn, Bích Lạc lên tiếng.
“Đóng cổng.”
Cả Vạn Tiên Các im lặng.
“Vạn Tiên Hộ Thành Trận,” Bích Lạc nói, giọng như nước suối trên đá lạnh, “chỉ đủ lực bảo hộ một thành. Ba trăm vạn người trong thành đã là giới hạn. Thêm người vào, trận yếu đi. Trận yếu đi, ma triều phá. Ma triều phá, tất cả đều chết.” Nàng nhìn quanh. “Chư vị muốn cứu ai? Cứu ba trăm vạn người trong thành, hay cứu thêm mười vạn người ngoài thành rồi chết cả ba trăm mười vạn?”
Không ai đáp.
“Đóng cổng,” Bích Lạc nói lại. “Từ nay, chỉ tu sĩ được vào Thiên Đô. Tu sĩ có ích. Phàm nhân,” nàng ngừng lại một nhịp, “ở lại.”
“Ở lại,” vị tông chủ Trung Châu lặp lại. “Ở lại… để làm gì?”
Bích Lạc nhìn y. Không trả lời.
Không cần trả lời.
Tháng Năm, chín cổng Thiên Đô đóng lại. Màn vàng của Vạn Tiên Hộ Thành Trận dày lên một lớp. Những tu sĩ từ khắp Trung Châu, từ Đông Thắng, từ Nam Hoang, kéo về Thiên Đô từng đoàn, được thả vào qua một lối nhỏ ở cổng đông, mỗi người phải để Trắc Linh Thạch chạm tay. Đá sáng, vào. Đá không sáng, đứng ngoài.
Có một người mẹ ôm đứa con hai tuổi đứng xếp hàng ở lối nhỏ ấy suốt ba ngày. Tới lượt chị, chị đặt tay đứa con lên Trắc Linh Thạch. Đá không sáng. Chị đặt tay mình lên. Đá không sáng. Đệ tử giữ cổng phẩy tay, như đuổi ruồi.
Chị không đi. Chị quỳ xuống, dập đầu trên đá thanh cương trước cổng. Dập tới khi trán chảy máu. Đệ tử giữ cổng kéo chị ra, ném chị vào đám đông phàm nhân đang đứng ngoài tường thành.
Chuyện ấy được kể lại tới Thanh Thạch bằng một ống tre bịt sáp. Người kể là một hành thương Vạn Bảo Lâu. Ông ta viết thêm một dòng ở cuối, nét chữ run: Đứa trẻ ấy, giống con gái tại hạ.
Tháng Sáu, Trung Châu bắt đầu chạy.
Những người không vào được Thiên Đô chạy về phía đông. Họ không biết chạy đi đâu. Họ chỉ biết ma triều ở phía tây, nên chạy về phía đông. Có những đoàn mười người. Có những đoàn mười vạn người. Họ chạy trên những con đường cái của Trung Châu, qua những thành trống không, những làng trống không, ăn rễ cây, uống nước đọng.
Ở cuối con đường về phía đông có Đoạn Long Quan.
Đoạn Long Quan là hùng quan giữa Trung Châu và Đông Thắng, nằm giữa hai vách núi cao như hai thanh kiếm dựng ngược. Ba trăm năm nay, Đoạn Long Quan do một liên minh tông môn Đông Thắng trấn giữ, thu thuế người qua lại. Tháng Sáu, mấy tông môn ấy rút cả về Thiên Đô. Đoạn Long Quan bỏ trống. Cổng sắt khóa. Không ai giữ chìa.
Những đoàn người chạy tới Đoạn Long Quan, gặp cổng sắt khóa, đứng lại.
Tin tới Thanh Thạch vào một buổi sáng mưa.
Trường Ca đọc thư. Rồi hắn đưa cho Tạ.
Tạ đọc thư. Rồi y đứng dậy, cầm kiếm.
“Ta đi,” y nói.
“Cổng sắt Đoạn Long Quan dày ba thước,” Hà Trưởng Lão nói. “Trận văn của nó do Thiên Cơ Tông khắc. Lão phu biết.”
“Vậy ông đi với ta,” Tạ nói. “Ông khắc trận, thì ông biết chỗ nào mở.”
Hà Trưởng Lão nhìn y. Rồi ông chống gậy đứng dậy.
“Lão phu già rồi,” ông nói. “Đi chậm.”
“Ta một tay,” Tạ nói. “Cũng không nhanh.”
Hai người đi ra cửa. Ô Mãng nhìn theo, rồi nhìn Trường Ca.
“Minh chủ không đi?”
Trường Ca đứng trước tấm bản đồ. Vệt đỏ đã bò tới giữa Trung Châu. Nhánh nam đã chạm vào rìa Nam Hoang, chỗ Vạn Chướng Lâm.
“Ta đi,” hắn nói. “Nhưng không phải Đoạn Long Quan.”
“Vậy đi đâu?”
Hắn chỉ lên tấm bản đồ. Không phải phía đông. Không phải phía nam. Phía tây. Vào giữa vệt đỏ.
“Đi xem,” hắn nói. “Ma triều là gì. Ma Tôn là gì. Cái đỉnh ấy đưa người đi đâu.”
Đa Đa đặt cuốn sổ xuống bàn, đánh rầm một cái.
“Ngươi điên à,” y nói. “Đại Thừa. Đại Thừa Đại Viên Mãn. Ngươi Hóa Thần Trung kỳ. Ngươi cách hắn ba đại cảnh. Hắn một ngón tay giết một Luyện Hư. Ngươi đi xem, là đi cho hắn xem.”
“Ta có Liễm Tức,” Trường Ca nói. “Chỉ Luyện Hư mới nhìn thấu.”
“Hắn là Đại Thừa!”
“Thì ta không để hắn nhìn.”
Đa Đa nhìn hắn. Mặt y đỏ bừng. Rồi y ngồi phịch xuống ghế.
“Lỗ vốn,” y nói. “Lỗ to.”
Mười hai ngày sau, thư của Tạ về.
Không phải ống tre. Là một mảnh vải rách, viết bằng than, buộc vào chân một con bồ câu xám của Vạn Bảo Lâu. Chữ của Tạ xiêu vẹo, vì y viết bằng tay phải trong khi tay ấy còn đang cầm kiếm.
Mở rồi.
Chỉ hai chữ. Nhưng hành thương Vạn Bảo Lâu đi theo đoàn người chạy nạn kể lại phần còn lại, và Đa Đa ghi vào sổ.
Tạ và Hà Trưởng Lão tới Đoạn Long Quan vào một buổi trưa nắng gắt. Trước cổng sắt, phía Trung Châu, có hơn mười vạn người. Họ đã đứng đó chín ngày. Họ đã đập vào cổng sắt bằng tay, bằng đá, bằng đầu. Cổng sắt dày ba thước, trận văn Thiên Cơ khắc trên mặt cổng sáng lên mỗi lần có người chạm vào, hất họ văng ra. Dưới chân cổng có những vết máu khô chồng lên nhau.
Hà Trưởng Lão đứng trước cổng sắt một lúc lâu. Ông nhìn trận văn. Ông nhận ra từng đường. Một trăm năm trước, chính tay ông khắc bảy trong số chín vòng trận ấy, khi còn là một đệ tử trẻ của Thiên Cơ Các, tự hào vì được giao việc lớn.
“Chỗ này,” ông nói, đặt ngón tay lên một điểm ở góc dưới bên trái. “Năm ấy lão phu khắc vội. Đường thứ bảy lệch nửa phân.”
Tạ rút kiếm. Một nhát. Đúng vào chỗ ấy. Kiếm thẳng.
Trận văn tắt. Cổng sắt không mở. Nhưng nó không hất người ra nữa.
Rồi mười vạn người cùng đẩy.
Cổng sắt Đoạn Long Quan, ba trăm năm thu thuế người qua lại, kêu một tiếng rên rất dài, rồi mở ra.
Người ta tràn vào Đông Thắng như nước vỡ đê. Tạ đứng bên cổng, một tay cầm kiếm, nhìn họ đi qua. Có người dừng lại cúi đầu với y. Có người không thấy y. Có một đứa bé trai chừng bảy tuổi nắm lấy ống tay áo trái trống rỗng của y, hỏi: “Thúc thúc, tay đâu rồi?” Tạ nói: “Để lại ở Thanh Thạch.” Đứa bé gật đầu như hiểu, rồi chạy theo mẹ nó.
Hà Trưởng Lão ngồi xuống một tảng đá bên cổng, thở dốc. Ông nhìn những vết máu khô dưới chân cổng sắt, nhìn rất lâu.
“Một trăm năm,” ông nói khẽ. “Lão phu khắc cái cổng này để giữ người ngoài. Hôm nay mới biết, nó giữ người trong.”
Tạ không đáp. Y ngồi xuống bên cạnh ông, đặt kiếm lên gối. Cả hai người, một già, một cụt tay, ngồi bên cổng sắt Đoạn Long Quan, nhìn mười vạn người đi qua, cho tới khi mặt trời lặn.
Mười vạn người ấy không có chỗ đi. Đông Thắng không có thành nào đủ lớn để chứa họ. Những tông môn còn lại ở Đông Thắng đóng cổng, như Thiên Đô.
Nên họ đi về Thanh Thạch. Vì ai cũng nghe nói ở đó có một cái cờ chữ Nhân, và một ông tiều phu một mắt có một tấm tranh chứa được mười vạn người.
Đoàn đầu tiên tới vào ngày thứ mười chín. Thạch Đầu đứng ở cổng làng với A Lan và ba mươi người của Phàm Nhân Minh, phát cháo. Cháo nấu bằng gạo của mười hai châu Đông Thắng, những châu đã bỏ Linh Cống, gửi về bằng xe bò. Không đủ. Không bao giờ đủ. Nhưng đủ cho một bát mỗi người.
Chiều hôm ấy, Trường Ca mở Đồ ở cánh đồng phía nam.
Mười lăm năm hắn không mở Đồ trước nhiều người như thế. Cuộn tranh cổ bung ra, phủ lên cánh đồng như một làn sương. Bên trong Đồ, đất đã khác năm xưa. Mười vạn người Huyết Lao đã sống trong đó bảy ngày, rồi ra, nhưng ký ức của họ ở lại, thành những ngôi làng mới, những con đường mới, những thửa ruộng mới. Bốn mươi chín nhánh mạch Nam Hoang chảy bên dưới, giữ cho đất ấm. Cánh đồng lúa vàng. Cây đa. Cái chợ. Những ngọn đèn từ mười lăm đêm Vạn Đăng, không biết từ lúc nào, đã thành những ngọn đèn treo trên mái nhà trong Đồ, cháy mãi không tắt.
Những người Trung Châu đứng trước làn sương ấy, không dám bước vào.
Một bà già trong đoàn Thanh Thạch, người đã ở trong Đồ bảy ngày năm xưa, bước ra. Bà nắm tay một người đàn bà Trung Châu, dắt vào. “Đi đi,” bà nói. “Trong ấy có ruộng.”
Người đàn bà ấy bước vào. Rồi mười người. Rồi một nghìn. Rồi mười vạn.
Trường Ca đứng ở rìa làn sương, máu chảy khẽ từ lỗ mũi, nhìn họ đi vào. Hóa Thần rồi, mười vạn người không còn làm thần thức hắn rách nữa. Chỉ nặng. Như gánh một gánh củi đầy.
Đêm ấy, Trường Ca ngồi bên giếng.
Mặt nước giếng phản chiếu ánh trăng hạ tuần. Gió đêm tháng Sáu mát. Cây đào bên giếng sai quả, những quả đào xanh nhỏ như ngón tay cái.
Hắn lấy năm mảnh cổ giản ra, đặt lên lòng bàn tay.
“Sư phụ.”
Im lặng.
“Sư phụ. Đệ tử muốn hỏi một việc.”
Rất lâu sau, giọng Mạc Lão mới vang lên. Yếu. Xa. Như vọng từ đáy một cái giếng sâu.
“Hỏi đi.”
“Ma Tôn,” Trường Ca nói. “Khổ Độ Thiền Sư gọi hắn là lưỡi liềm. Cổ Huyền nói trên trời có kẻ thu ruộng. Cái đỉnh trên lưng Ma Tôn hút người, khói từ đỉnh bay lên mép cửa. Đệ tử muốn biết: Ma Tôn là kẻ thu ruộng, hay là cái liềm?”
Cổ giản im lặng rất lâu.
“Lão không biết,” Mạc Lão nói. Giọng ông nhỏ hơn nữa. “Lão không nhớ. Năm mảnh, lão chỉ nhớ được năm phần. Nhưng lão nhớ một điều.” Một nhịp. “Năm ấy, trước khi lão độ kiếp, cũng có một mùa như thế này. Trời phía tây đỏ. Người chết. Rất nhiều người chết. Rồi lão lên đài. Rồi…”
Giọng ông đứt đoạn.
“Rồi sao, sư phụ?”
“Rồi có đạo thứ tám mươi hai.”
Cổ giản nguội đi. Mạc Lão không nói thêm.
Trường Ca ngồi đó, năm mảnh cổ giản trên tay, nhìn về phía tây. Vệt đỏ ở chân trời phía tây bây giờ đêm nào cũng thấy. Nó không còn mỏng như sợi chỉ. Nó rộng như một dải lụa. Dải lụa màu máu.
Tiếng bước chân sau lưng hắn. Nhẹ. Mỗi bước để lại một vòng sương mỏng trên đất.
“Ngươi định đi về phía tây,” Mộ Dung Thanh Tuyết nói.
Hắn không quay lại. “Ai nói với nàng?”
“Tiền chưởng quỹ. Y gửi thư lên Dao Trì Sơn bằng đường của Vạn Bảo Lâu. Y viết: Thanh Tuyết cô nương, tên ngốc ấy lại sắp đi tìm chết. Cô nương tới mà cản.” Nàng ngồi xuống thành giếng, cách hắn một cánh tay. “Ta không tới để cản.”
“Nàng tới để làm gì?”
“Tới để nói với ngươi một việc.” Nàng nhìn xuống mặt nước giếng. “Ta đã tới Vạn Tái Băng Nguyên.”
Trường Ca quay sang.
“Năm ngoái,” nàng nói. “Một mình. Ta đi tới chân Huyền Băng Cung. Ta đứng ngoài cổng ba ngày. Không ai mở cổng. Ngày thứ tư, có một người ra.” Nàng ngừng lại. “Lạc Băng Tâm. Sứ giả Huyền Băng Cung. Người đã ngồi ở góc tây trong Chính Đạo Hội Minh năm ấy, ghi chép mọi thứ.”
“Nàng ấy nói gì?”
“Nàng ấy nhìn chuôi kiếm của ta rất lâu. Rồi nói: Cung Chủ chưa muốn gặp ngươi. Nhưng nếu ngươi đi cùng người ấy, người đã chiếu Lạc Hà lên trời, thì cổng sẽ mở.” Thanh Tuyết quay sang nhìn hắn. “Ta không biết vì sao. Nhưng Huyền Băng Cung muốn gặp ngươi.”
Trường Ca nhìn nàng. Nhìn bông tuyết sáu cánh khắc mờ trên chuôi Lãnh Nguyệt Kiếm.
“Huyền Băng Cung trung lập,” hắn nói.
“Trung lập,” nàng nói. “Họ không vào Thiên Đô. Họ cũng không ra đánh. Họ đóng cổng, ngồi trên băng, nhìn.” Nàng siết chuôi kiếm. “Nhưng họ ghi chép. Vạn năm nay họ ghi chép. Lạc Băng Tâm nói: trên Băng Phong Bi Lâm của Huyền Băng Cung, có ghi chuyện vạn năm trước. Chuyện Ma Tôn.”
Gió đêm thổi qua cây đào. Những quả đào xanh khẽ đung đưa.
“Đi Tây Mạc trước,” Trường Ca nói. “Ta phải xem tận mắt. Rồi đi Bắc Minh.”
“Ta đi cùng ngươi.”
“Tây Mạc?”
“Bắc Minh.” Thanh Tuyết đứng dậy. “Tây Mạc, ngươi đi một mình. Liễm Tức của ngươi giấu được một người. Không giấu được hai.” Nàng nhìn hắn một lúc. “Ngươi về. Rồi ta đi cùng ngươi.”
Nàng quay đi. Đi được ba bước, nàng dừng lại.
“Lần này,” nàng nói, không quay đầu, “ta hứa.”
Hắn chưa kịp đi.
Sáng hôm sau, lúc trời còn chưa sáng hẳn, Thạch Đầu chạy vào nhà gỗ, mặt tái mét.
“Anh! Ra xem!”
Trường Ca chạy ra sân. Cả làng Thanh Thạch đã đứng trên sân đình, ngửa cổ nhìn trời phía tây.
Trên bầu trời phía tây, ngược với vệt đỏ, có một chấm vàng.
Nó đang bay về phía Thanh Thạch. Rất nhanh. Rất lớn. Khi nó tới gần hơn, người ta thấy nó không phải một chấm. Là một con chim. Một con chim khổng lồ, sải cánh rộng hơn cả sân đình, lông vàng như vàng ròng, đang bay về phía họ. Nhưng nó bay không thẳng. Nó chao đảo. Một bên cánh của nó rách nát, lông vàng rụng lả tả trong gió như lá thu. Trên lưng nó, chen chúc nhau, bám vào lông nó, là hàng trăm bóng người.
Nó bay qua Hạ Khê Trấn. Bay qua rừng thông. Bay qua sườn núi lở.
Rồi nó rơi.
Nó rơi xuống ruộng lúa phía nam Thanh Thạch, cày một đường dài trăm trượng trên đất, bùn bắn lên cao như sóng. Những bóng người trên lưng nó văng ra, lăn lộn trên ruộng. Con chim vàng nằm im giữa ruộng, ngực phập phồng, máu vàng chảy ra từ cánh rách.
Rồi nó biến hình.
Lông vàng thu lại. Thân hình khổng lồ co lại. Khi bùn lắng xuống, giữa ruộng lúa, chỉ còn một người thanh niên tóc vàng, mặc giáp vàng rách nát, nằm sấp trên bùn, một bên vai máu chảy ròng ròng.
Y chống tay ngồi dậy. Nhìn quanh. Nhìn những người dân Thanh Thạch đang đứng trên bờ ruộng. Nhìn cây sào cờ chữ Nhân ở đầu làng.
Rồi y nhìn thấy Trường Ca.
Y gượng đứng dậy, loạng choạng bước tới, rồi quỳ một gối xuống bùn. Không phải quỳ của kẻ yếu. Là quỳ của một người kiêu hãnh, đã đi hết đường, không còn chỗ nào để kiêu hãnh nữa.
“Kim Bằng Cổ Tộc,” y nói, giọng khàn đặc. “Kim Vũ. Xin gặp Minh chủ Phàm Nhân Minh.”
Muốn biết hậu sự thế nào, xin xem hồi sau phân giải.