Phàm Nhân Nghịch Thiên Lục

Chương 95: Hạ Thê Quy Phàm

Chương 95 · 2026-10-14 · 3676 chữ

Hạ thê phượng vũ lưu hồng chúc, Ngũ vực khai môn đạo chính khuynh. Bích Lạc thất quyền Dao Trì chỉnh, Thanh Thạch quy lai tỉnh bán thanh.


Họ xuống hết Thiên Thê trong nửa ngày. Xuống Địa Thê trong một ngày. Xuống Nhân Thê trong hai ngày. Thang lúc lên lấy phí. Lúc xuống không trả. Chỉ đẩy. Gió từ dưới đỡ lưng. Chuông đá kêu ngắn. Như người đưa khách ra cổng, vừa lịch sự vừa muốn khách đi mau để đóng cửa ngủ.

Ở bậc chín trăm chín mươi chín, chỗ từng quên giọng hát, hắn dừng rất lâu. Thanh Tuyết dừng cạnh. Nàng biết chỗ này của hắn. Chỗ của nàng ở gần đó, cùng một loại mất. Hai sợi bạc trên cửa. Hai người dưới thang. Hắn không hát. Nàng không nói câu mẹ. Họ chỉ đứng. Rồi đi.

Ở bậc năm trăm, chỗ cây đào Lạc Hà trong ký ức, một cánh đào thật từ đâu bay tới, đậu trên mũi Trảm Thiên, rồi rơi. Không phải mùa. Là thang. Thang đôi khi trả những thứ nhỏ không đáng tính phí. Hắn nhặt cánh, bỏ túi. Bên cạnh sẽ có lông đỏ.

Ở bậc hai, Thạch Linh Thê Thủ đã đứng chờ. Nó không chặn. Nó chỉ hỏi.

Bậc một. Nền đá tròn chân Thông Thiên Thê. Thiên Hỏa Trì bên trái vẫn rơi lửa trắng. Hồ không đầy không cạn. Thạch Linh Thê Thủ đứng bên, mặt mòn, rêu vai. Nó nhìn hai người từ trên xuống, hỏi một lần nữa, giọng cả ba nghìn bậc:

“Leo để làm gì?”

Trường Ca dừng. Kiếm Trảm Thiên ngang thân. Ma ấn dưới băng. Áo máu khô. Năm mươi hai tuổi. Đại Thừa Sơ kỳ. “Đã leo. Đã chém. Đang về.”

Nó im lâu. Rồi gật. Lùi. Nhường lối xuống đất.

Thanh Tuyết bước xuống nền trước nửa bàn chân, rồi đứng lại cạnh hắn. Không trước. Đúng chỗ. Nàng nhìn quanh. Chỗ ngọc quan từng đặt sát mép hồ. Tro. Đá cháy đen hình chân đỉnh cũ đã nhạt. Không còn bốn đệ tử. Không còn xe gỗ. Không còn áo bông quá khổ của Hồng.

Chỉ còn một chiếc lông đỏ nhỏ như lá liễu, cắm trên một mảnh đá phẳng gần mép hồ, chỗ Hồng từng tựa ngọc quan trống.


Hắn cúi nhặt.

Lông đỏ. Không cháy. Ấm. Như còn một tia Tổ Hỏa rất nhỏ nằm trong ống lông. Không phải lông phượng huyết đã chảy vào Thanh Tuyết. Là lông để lại. Lông chúc. Cùng loại với lông nàng để trên thành ngọc quan trống trước khi đi, cùng loại với lời đệ tử mặt tròn đã ghi. Lần này để đúng chỗ hắn sẽ cúi.

Dưới chân mảnh đá, than viết một hàng, chữ xấu, chữ Hồng. Nét như lửa viết, nghiêng, mạnh:

Hồng Liên Diễm chúc phúc. Rồi đi. Đừng theo. Đừng khóc. Đồ ngốc.

Bên cạnh, nhỏ hơn, một hàng nữa, như viết thêm lúc đã quay lưng:

Băng sơn mỹ nhân. Giữ hắn sống. Ta còn muốn thắng nàng lần nữa.

Thanh Tuyết đọc. Môi mím. Má đỏ một chút, rồi lạnh lại. “Đồ khốn,” nàng nói, rất nhẹ, như trả lời hộ hắn. Rồi, với hàng thứ hai: “Đồ… cũng khốn.” Nàng nhìn về phía nam. “Nàng ấy đi rồi.”

Hắn tưởng tượng Hồng chống gậy, không, tay đã lành, áo mới Xích Viêm, tóc cháy xém ngang vai, đi bộ về Nam Hoang một mình, không nhìn lại thang. Như nàng đã nói: đường của ta là lửa, không phải trăng.

“Nam Hoang,” hắn nói. “Tổ Hỏa. Đường của nàng là lửa.”

Hắn gấp lông đỏ, bỏ vào túi cạnh vạt áo đạo lữ, cạnh lông vàng Kim Vũ, cạnh sổ nợ Đa Đa. Túi nặng dần theo năm tháng. Không phải linh thạch. Là người.

Mạc Vấn Thiên trong ngực nói: “Phượng ấy… tốt. Lão nợ nàng một câu cảm ơn. Nhờ ngươi trả giúp lúc nào gặp.”

“Sẽ trả,” hắn nói.

Gió chân thang thổi. Mang mùi đất. Mang mùi cháy cũ. Mang mùi sống. Thông Thiên Thê phía sau vẫn xuyên mây. Bậc ba nghìn không thấy. Chữ Nhân trên ấy có giọt băng. Ba năm.


Họ không đi bộ ba ngày như lần tới. Đại Thừa. Hắn xé hư không được. Vết rách mở khó gần thang, nơi thớ không gian bị đóng đinh, dễ hơn khi đã ra xa. Nhưng trước khi xé, họ đi bộ một đoạn dọc đường cỏ chết. Hắn muốn xem một chỗ.

Thủy Khẩu Thôn. Làng trống ngày tới. Bát đũa còn trên bàn. Nôi tre. Bia dưới gốc đa, dòng than “Đi về phía nam. Đừng ở lại”, và chữ Nhân hắn vạch bên cạnh.

Làng không còn trống.

Khói bếp. Ba nóc. Năm nóc. Một ông lão đang quét sân đình. Hai phụ nữ gánh nước từ con suối phía đông, suối từng cạn. Cỏ ven đường vẫn chết. Nhưng giữa cỏ chết có một vệt xanh mảnh, như ai đó vừa gieo hạt. Ma triều đã tan khi sợi chỉ đứt. Không còn gì canh chân thang. Người đi về phía nam đã quay lại.

Ông lão quét sân thấy hai người áo máu khô, kiếm bên hông, thì đứng lại, tay run trên cán chổi. Rồi ông thấy chữ Nhân trên bia, nhìn hắn, nhìn tay hắn.

“Tiên nhân… vạch chữ này?”

“Bản tọa vạch,” hắn nói. Với phàm nhân. Như lệ. “Không phải tiên. Người đi ngang.”

Ông lão quỳ. Hắn đỡ dậy. Tay trái xanh nửa đá làm ông giật mình. Hắn đổi tay phải.

“Tôi về được ba tháng,” ông lão nói. “Thấy chữ, tôi nghĩ có người đi trước. Không sợ nữa. Gọi con cháu về. Mưa sao rơi xuống ruộng. Năm nay chắc có lúa.”

“Có lúa,” hắn nói. “Của ông. Không nộp ai.”

Ông lão không hiểu. Vẫn gật. Gật đầu cũng là hứa, dù ông không biết câu ấy là của làng khác.

Thanh Tuyết đứng cạnh, nhìn những nóc khói. Song tâm. Ấm. “Đây là lý do,” nàng nói khẽ.

“Một trong những lý do,” hắn nói.

Rồi họ đi tiếp ra khỏi làng. Đến chỗ thớ không gian đã mềm. Hắn xé. Vết rạn kiếm không còn để kêu như than thở. Trảm Thiên mở thớ êm như dao vào gỗ mục. Thanh Tuyết bước vào trước. Hắn bước sau. Vết khép.

Trong khoảng tối giữa hai bờ hư không, nàng hỏi: “Ngươi xưng bản tọa với ông lão bằng tuổi cha ngươi. Có thấy lạ không?”

“Lạ,” hắn nói. “Năm mười hai, tại hạ đứng chỗ ông ấy. Cúi đầu trước người cầm kiếm. Bây giờ cầm kiếm, xưng theo lệ. Lệ là áo. Lòng không đổi.”

“Lòng không đổi,” nàng nhắc. Như ghi.

Lần dừng thứ nhất: Thiên Đô.

Cổng thành từng đóng. Từng có máu. Từng có Bích Lạc đứng trên tường. Giờ cổng mở. Không phải phá. Mở từ bên trong. Bản lề kêu như người già đứng dậy. Chính đạo đứng hai bên. Áo đủ màu tông môn. Không phải nghênh bằng trống. Không phải chặn bằng trận. Là chịu. Ai cũng nghe mưa sao. Ai cũng thấy cột khí Đại Thừa năm ấy bắn lên cửa. Ai cũng biết lưỡi liềm không còn.

Người cầm sổ Thiên Cơ cũ không còn. Cổ Huyền không thấy. Có lời đồn ông ta đã tự phong ấn trong tàng kinh các, không ra. Có lời đồn ông ta đi lên thang một mình, chưa thấy xuống. Hắn không hỏi. Có người mới thay chỗ giữ sổ, mặt trắng, cúi sâu hơn chức vụ.

“Lục… Lục đạo hữu,” người mặt trắng nói. “Thiên Đô… xin mở cổng. Vĩnh viễn. Ai của liên minh vào không cần lệnh. Ai của chính đạo muốn gia nhập liên minh, ghi tên ở bàn bên trái.”

Hắn nhìn bàn bên trái. Đã có một hàng chữ. Không dài. Đủ để thấy gió đã đổi.

“Không cần gọi đạo hữu,” hắn nói. “Tại hạ về làng. Cổng mở là được. Đừng đóng lại vì một lời trên cao.”

“Không đóng,” người mặt trắng nói. Máu ở khóe miệng vì cúi quá sâu. “Gật đầu. Gật đầu cũng là…”

“Hứa,” hắn nói giúp. “Ở Thanh Thạch, gật đầu cũng là hứa. Ở Thiên Đô cũng vậy.”

Một trưởng lão áo xanh Dao Trì ra đón. Không phải Bích Lạc. Một nữ tu trung niên, tóc hoa râm, mắt đỏ như vừa khóc xong. Sau nàng, hai chục đệ tử đứng. Có người hắn từng thấy ở Lạc Hà. Có người lạ. Tất cả không đeo ngọc Bích Lạc từng ban. Ngọc ấy nằm trong một cái khay đồng, vỡ làm đôi.

Nữ tu quỳ một gối trước Thanh Tuyết.

“Chưởng môn,” nàng nói.

Thanh Tuyết đứng im. Gió Thiên Đô thổi áo trắng. Hai trâm. “Bích Lạc đâu?”

“Đệ tử chúng ta họp. Ba ngày ba đêm. Không đợi lệnh liên minh. Không đợi Chưởng môn về. Tự xử.” Nữ tu ngẩng. Mắt đỏ. “Phế. Không giết. Phế tu vi xuống Trúc Cơ. Giam hậu sơn. Tội: bán đồng môn cho Thiên Đô, cấu kết hại liên minh, hại người sẽ là Chưởng môn, hại uy tín Dao Trì ba nghìn năm. Bích Lạc ký nhận. Có máu. Có dấu.”

Một đệ tử trẻ đưa khay ngọc vỡ. “Ngọc truyền thừa. Chúng ta bẻ. Chờ Chưởng môn mới khắc.”

Song tâm. Hắn cảm thấy nàng không vui. Không giận. Chỉ nặng. Như người được trả một ngôi nhà đã cháy nửa, phải quyết có ở lại sửa hay không. Nàng nhớ vọng bí cảnh. Nhớ Hồng nói không muốn thắng người đã chết. Nhớ chính mình từng là đệ tử dưới trướng người ấy.

“Cho ta gặp Bích Lạc một lần,” nàng nói. “Không tha. Chỉ nhìn. Rồi giam tiếp.”

“Được.”

Họ đi hậu sơn nửa canh giờ. Hắn đi theo. Không vào phòng giam. Đứng ngoài. Thanh Tuyết vào một mình. Song tâm. Hắn cảm thấy lạnh. Cảm thấy một giọng già, khàn, không còn kiêu: “Ngươi thắng.” Và nàng: “Không phải ta thắng. Là đệ tử ngươi thắng ngươi. Ta chỉ về.” Cửa đóng. Nàng ra. Mắt khô.

“Ta về,” Thanh Tuyết nói với trưởng lão và hai chục đệ tử ở đại điện. “Chỉnh. Luật mới. Không bán người. Không đứng trên liên minh. Dao Trì gia nhập liên minh Ngũ Vực. Không còn đứng trên. Không còn đứng ngoài. Đứng cạnh. Ai không muốn, đi. Ai muốn, ở. Ở thì giữ lời.”

Trưởng lão khóc. Gật. Gật đầu cũng là hứa. Hai chục đệ tử gật. Ngọc vỡ để trên án. Chờ khắc.

Hắn không ở Dao Trì lần này. Nàng đưa hắn ra cổng. “Ba tháng. Ta chỉnh xong. Luật. Người. Nợ. Rồi về Thanh Thạch. Đứng ngoài kiếp vân cần chuẩn bị. Cần người Dao Trì biết chỗ đứng.”

“Ba tháng,” hắn nói. “Ta chờ ở làng. Cơm A Lan. Giếng. Đa Đa đòi rượu.”

Nàng nắm tay. Ấm. Rồi buông. “Đồ ngốc. Giữ ấn. Đừng mở cho ai xem. Đừng để trẻ con làng sợ.”

“Biết.”

Nàng bước vào cổng Dao Trì. Không quay lại. Song tâm còn. Đủ để hắn biết nàng vừa vào đại điện đã bắt đầu gọi sổ đệ tử. Việc. Không khóc.

Ba ngày sau, lúc hắn đã ở đồng bằng Trung Châu, song tâm truyền một cảm giác ngắn: mệt, xong một việc, ấm. Không lời. Đủ biết nàng còn. Đủ biết Dao Trì đang chuyển. Một tuần sau, đệ tử mặt tròn Huyền Băng (đi cùng xe quan về bắc từ trước) gửi thư tay tới liên minh, Đa Đa chuyển: “Lãnh Chưởng môn hỏi giếng. Hỏi ấn. Hỏi ông có ăn cơm A Lan chưa. Đệ tử ghi hộ.” Hắn bảo Đa Đa viết đáp: “Giếng lưng chừng. Ấn còn. Cơm có. Nhớ đứng cạnh.” Đa Đa thu phí một chén rượu. Hắn trả.


Ngũ Vực mở hội.

Không phải hắn tổ chức. Người ta tự mở. Tin mưa sao. Tin lưỡi liềm chết. Tin đỉnh mất. Tin hai người lên bậc ba nghìn rồi xuống. Tin lan nhanh hơn cổng thành mở.

Tây Mạc: Kim Vũ sai người dựng lều rượu trên cát. Cánh trái cong xòe nửa làm mái. Ô Mãng mở mười vò ngô. Người Mạc đến dự không hỏi cảnh giới, chỉ hỏi uống được bao nhiêu. Kim Vũ gửi một sợi lông vàng nhỏ thứ hai về Thanh Thạch, ngắn hơn sợi trong túi hắn, kèm chữ: “Cái này không phải tín vật. Là mừng. Đừng thả. Thả là ta nghĩ ngươi lại rơi.”

Đông Hải: thuyền hoa neo ở bến cũ. Người chài treo đèn. Có người kể mưa sao rơi xuống biển thành cá bạc bơi một vòng rồi tan. Có người không tin. Vẫn uống.

Tu Di: chuông cả chùa đánh một ngày một đêm. Huyền Không niệm tên những người trong mưa sao mà hắn nhớ được. Khổ Độ. Vài người Lạc Hà. Rồi niệm “vô danh” cho những người không nhớ. Chuỗi bồ đề trong tay đủ hạt. Mắt khô. “A di đà phật. Về rồi.”

Nam Hoang: Tổ Hỏa cao thêm một trượng một đêm. Hồng không về dự. Chỉ gửi một đốm lửa nhỏ bay tới Trung Châu, đậu trên nóc quán Đa Đa, cháy đúng một canh giờ rồi tắt. Đa Đa ghi: “Lửa Hồng. Không tính tiền. Tính tình.”

Bắc Minh: tường băng Huyền Băng Cung sáng như ngày hội. Lãnh Vô Sương ngồi ghế bánh xe giữa sân, cười một lần. Bàn tay trái không cử động, tay phải nâng chén. Lạc Băng Tâm ghi sổ: “Ngày trời lỗ mùa gặt. Cháu gái đứng cạnh người ấy. Đủ.” Ba trăm đệ tử không đốt pháo. Đốt đèn băng. Đèn cháy bằng hàn khí, sáng xanh, suốt ba đêm.

Trung Châu. Thanh Thạch. Liên minh năm cờ. Đa Đa mở sổ thu chi hội. Ai mang rượu vào ghi. Ai mang gạo vào ghi. Ai mang lời vào không ghi, vì lời không cân được. Tạ đứng cổng, kiếm lưỡi cuốc, lưng thẳng. Không ai được vào làng mang theo kiếm đã rút. Ai muốn mừng thì để kiếm ngoài, vào bằng tay không. Vương bá ngồi mài một lưỡi cuốc mới, không nhìn hội, chỉ mài. “Cùn còn dùng được,” lão nói với ai hỏi. “Sắc quá dễ đứt tay trẻ.”

Hắn về làng đúng ngày hội thứ ba.

Đa Đa đón ở cổng, sổ cầm một tay, tay kia chỉ chỗ để kiếm. “Để ngoài. Nội quy Tạ. Ta ghi: Lục Trường Ca về, mang một thanh tiên khí, một ấn không cho xem, một đạo lữ đang chỉnh tông, và một món nợ rượu.” Hắn cười. Để Trảm Thiên lên giá ngoài cổng cạnh hàng kiếm tông môn. Kiếm nằm im. Không ai dám để kiếm khác chồng lên nó.

Tạ gật. “Lưng thẳng.” Hắn gật lại. Đủ.

Kim Vũ không đến. Cánh cong. Cát. Chỉ có sợi lông vàng thứ hai Đa Đa đã nhận hộ, nằm trong phong thư. Huyền Không có mặt một buổi, ngồi dưới gốc đa, niệm thầm, rồi đi. “Chùa còn việc.” Ô Mãng ở lại ba ngày, dạy trẻ con làng vật tay, bị A Lan mắng vì làm đổ chum tương, cười to, đền hai vò rượu.

Đêm thứ hai hội, Hồng Thiên Liệt chống gậy tới. Râu cháy đã mọc lại nửa. “Nhóc. Nghe nói lên tới cửa.” Hắn đổ rượu. “Ngươi nợ Hồng một câu. Ta nợ ngươi một trận chưa đánh chung. Uống.” Họ uống. Không nói nhiều. Lão đập vai hắn, chạm chỗ đá xanh, rút tay: “Lạnh. Ba năm. Đừng chết. Ta còn muốn xem lôi.”


Năm mươi ba tuổi. Mùa xuân. Đào nở. Cánh rơi xuống giếng.

Giếng có nước lưng chừng. Không đầy. Không cạn. Mặt nước bắt cánh đào, bắt trời, bắt mặt hắn khi hắn cúi xuống. Râu hắn có sợi bạc mới. Mai trái trắng cũ. Mắt trái tối. Mắt phải còn. Hắn nhìn lâu. Nhớ năm mười hai. Nhớ cổ giản. Nhớ Mạc Lão ngủ dưới đó ba nghìn năm. Nhớ mẹ giặt áo. Nhớ tranh Thủ Môn hứa đầy. Nhớ mình đã nói không. Nhớ sợi bạc trên cửa. Nhớ ba năm.

Thạch Đầu bốn mươi bảy. Tóc bạc thêm vài sợi. Cờ Nhân vẫn ở đầu làng, sợi ấm từ bờ ruộng. Hắn ôm hắn. Không khóc. Chỉ đập lưng ba cái, mạnh, như thử còn xương. “Về.”

“Về,” Trường Ca nói.

“Nghe nói ngươi chém một… cái gì trên thang.”

“Chém,” hắn nói. “Về rồi kể. Ăn trước.”

A Lan nấu cơm. Nồi lớn. Bếp đỏ. “Hôm đạo quả ta nấu thêm. Đậy. Hôm mưa sao ta cũng đậy. Hôm nay hết đậy. Ăn. Để nguội ta mắng.”

Hắn ăn. Cơm. Rau. Thịt ít. Không linh quả. Không đan. Phàm. Ngon. Hạt cơm dính mép. A Lan đưa khăn. Như đưa cho Thạch Đầu. Không vì Đại Thừa. Vì về nhà.

Trẻ con làng đứng ngoài cửa nhìn kiếm. Hắn để Trảm Thiên trên giá gỗ Vương bá đóng từ năm nào, cạnh cuốc. “Không rút trong làng,” hắn nói với chúng. “Ai muốn xem chữ, chờ ta lau sạch máu đã.” Chúng chạy. Một đứa quay lại: “Ông có phải tiên không?” Hắn lắc. “Tiều phu. Chỉ cầm kiếm.”

Ma ấn dưới áo lạnh. Hắn không để ai xem. Chỉ Thạch Đầu biết có vết, lúc hắn thay áo sau nhà. Thạch Đầu nhìn. Không hỏi sâu. Chỉ nói: “Ba năm. Ta cầm cờ. Ngươi nằm giếng hay đứng giếng, ta cầm cờ.”

“Đứng,” hắn nói. “Trên miệng giếng.”

Sáng hôm sau hắn dậy sớm. Chẻ củi. Thật. Rìu thật. Gỗ thật. Không Hỗn Độn. Không tiên khí. Nửa người trái xanh phải lấy chân nguyên tán mỗi nhát. Vẫn chẻ. Thạch Đầu ra đứng nhìn. Không giúp. “Nhát nghiêng.” Hắn sửa. “Được.” A Lan mang cháo. Không khê. Không phải cháo mẹ. Khác. Vẫn ấm.

“Ba năm,” Thạch Đầu nói. “Làng có sợ không?”

“Có,” hắn nói. “Sợ thì đào hầm. Sợ thì dạy trẻ chạy về phía tây khi mây đen. Không sợ đến mức đuổi ta đi thì ta ở. Đuổi thì ta độ kiếp chỗ khác, vẫn gần đủ để làng thấy trời, xa đủ để làng không cháy.”

“Không đuổi,” Thạch Đầu nói. “Cờ còn. Ngươi còn. Đủ.”

Đêm. Hội tan. Đèn tắt. Hắn ngồi bờ giếng. Kiếm Trảm Thiên đặt ngang gối. Tám mảnh cổ giản trong ngực ấm. Nước lưng chừng phản ánh sao. Một sao rơi. Không phải mưa linh. Sao thường. Hắn vẫn nhìn.

Mạc Vấn Thiên nói: “Ba năm. Từ đây đếm cũng được. Từ đạo quả đếm cũng được. Pháp tắc không sai. Ngươi đừng sai.”

“Không sai,” hắn nói.

“Ấn,” ông nói. “Lôi sẽ gột. Đau. Tám mươi mốt đạo. Có thể tám mươi hai. Lão từng đếm tám mươi mốt rồi gặp tay. Ngươi gặp mắt. Khác. Nguy hơn. Vì mắt thấy trước khi tay đánh.”

“Biết.”

“Thanh Tuyết đứng ngoài kiếp vân. Đừng để nàng vào sớm. Lôi không phân đạo lữ.”

“Nàng quyết. Không phải tại hạ.” Hắn ngừng. “Tại hạ chỉ đứng đúng chỗ. Trên miệng giếng. Không trên nóc nhà người khác.”

Ông im. Rồi nói, như người kể chuyện cũ cho đứa trẻ đã già: “Lão thích giếng này. Ba nghìn năm. Ngươi về, lão thích hơn. Đừng để lôi làm cạn. Nước lưng chừng là được. Đầy là tranh. Cạn là chết. Lưng chừng là sống.”

Một đứa mới sinh năm ngoái chạy ra sân đêm, mẹ đuổi theo. Đứa chỉ tay kiếm trên gối hắn: “Đẹp.” Mẹ xin lỗi. Hắn lắc đầu. “Để nó nhìn. Không cầm.” Đứa nhìn. Chạy về. Mẹ gật với hắn, như gật với người làng, không với minh chủ.

Hắn thò tay vào túi. Vạt áo nhuốm máu, của hai người. Lông vàng Kim Vũ. Lông đỏ Hồng. Sổ nợ Đa Đa. “Một bữa rượu. Chưa trả.” Cánh đào bậc năm trăm đã khô. Hắn để cánh ấy lên mặt nước giếng. Cánh nổi. Quay. Như thuyền rất nhỏ.

“Mai gọi Đa Đa,” hắn nói với giếng. “Trả rượu. Gọi Tạ. Gọi ai còn muốn nghe chuyện thang. Kể ngắn. Không kể hết. Hết thì dài bằng ba nghìn bậc.”

Giếng không đáp. Nước lưng chừng lăn một vòng rất nhỏ. Như gật. Mạc Vấn Thiên trong ngực cũng gật. Tám mảnh. Ấm.

Xa, phía đông bắc, Thông Thiên Thê vẫn là sợi chỉ bạc trên nền sao. Trên ấy có chữ Nhân và giọt băng. Có mắt vàng đang ghi nhớ. Có mảnh chín. Có hai sợi bạc dệt cửa. Có phong ấn chưa lay. Có câu “cứ xuống” còn treo giữa gió.

Gần, phía sau nhà, sào cờ ấm. Bếp đã ủ than. A Lan ngủ. Thạch Đầu ngủ. Trẻ con ngủ. Chó làng ngủ. Chỉ còn hắn và giếng và kiếm.

Ba tháng nữa Thanh Tuyết về. Ba năm nữa lôi về. Cửa chưa mở. Trời chưa xuống. Làng còn. Người còn. Việc còn. Hồi tám khép lại trên miệng giếng, đúng chỗ mọi thứ từng bắt đầu bằng một đứa trẻ mười hai tuổi và một thanh cổ giản.

Hắn nắm chuôi Trảm Thiên. Nét phẩy không run. Gật đầu cũng là hứa. Hứa với giếng. Với làng. Với người sẽ đứng cạnh. Với mưa sao. Với chính mình năm mười hai và năm năm mươi ba.

Chẻ củi. Để nhà người ta có lửa. Còn ba năm củi nữa phải chẻ.

Hồi tám khép. Thông Thiên Thê ở lại phía sau. Phàm trần ở phía trước. Một người tiều phu năm mươi ba tuổi, đạo lữ đang chỉnh tông ở xa, kiếm tên Trảm Thiên, ấn ma trên ngực, tám mảnh cổ giản, một cái giếng nước lưng chừng, và một lời mời trời xuống làng. Trời chưa trả lời. Làng đã gật đầu.

Muốn biết hậu sự thế nào, xin xem hồi sau phân giải.