Chương 97: Cố Nhân Tề Tụ
Cố nhân ngũ vực hội thôn tiền, Nhất gầu giếng đầy tiễn biệt ngôn. Cửu giản còn khuyết hồn lão phụ, Cười bảo đừng giữ hãy để tan.
Nửa tháng sau ngày đạo quả viên mãn, Thanh Thạch Thôn không còn chỗ trống trên bãi đất quanh giếng.
Không phải ma triều. Không phải Linh Cống. Là người. Cố nhân. Ngũ Vực. Từng người một đi vào làng như về nhà mình, dù nhà mình cách đây nghìn dặm.
Người đầu tiên tới không phải tu sĩ.
Là một đoàn xe bò Nam Hoang, bánh dính bùn đỏ, trên xe toàn gạo nếp và rượu ngô. Ô Mãng cầm trượng gỗ đen của cha, mắt sọ ba đã tắt từ năm nào, bước xuống trước cổng. “Ô Man Bộ tới. Không mang kiếm. Mang rượu. Minh chủ độ kiếp, bộ lạc che phía nam.” Sau lưng ông, hai trăm người vạch mặt đỏ, đàn ông đàn bà trẻ con, không một linh căn trong số nửa. Họ dựng lều ngoài tường đất làng. A Lan phát cháo. Không hỏi. Chỉ phát.
Người thứ hai là lửa.
Hồng Liên Diễm đáp xuống bãi đất trống phía đông lúc trời còn dính sương. Không cánh lửa năm mươi trượng như ngày Đoạn Long Quan. Chỉ một vòng lửa nhỏ dưới chân, đủ hạ. Áo đỏ. Lông phượng không cài tóc. Tóc ngắn ngang vai từ ngày Niết Bàn, nay dài lại tới lưng, buộc bằng dây vải thô. Khí tức: Nguyên Anh Đại Viên Mãn. Không phải Hóa Thần năm xưa. Nàng đã đốt nửa huyết mạch cứu người, rồi tự leo lên lại từ chỗ cháy. Mắt vẫn nóng. Cười vẫn lộ răng.
“Đồ khốn,” nàng nói, nhìn Lục Trường Ca đứng ở miệng giếng. “Viên rồi mà không tự bay tới Nam Hoang báo. Phải để tên béo viết thư. Thư ngắn như nợ.”
“Nợ đã trả,” Đa Đa nói từ dưới gốc đào. “Rượu. Không phải thư.”
Hồng nhìn Đa Đa một cái. “Phó Lâu Chủ. Mập ra. Ghế có êm không?”
“Êm. Lỗ to. Vẫn làm.”
Nàng bước tới hắn. Không ôm. Đấm nhẹ vào vai phải, chỗ không đá. “Ấn?”
Hắn mở một khuy áo. Rễ đen. Điểm sáng xám. Nàng nhìn lâu, lửa trong mắt co lại. “Xấu. Nhưng còn thở. Được.” Rồi nhìn Thanh Tuyết đứng sau hắn nửa bước. “Băng sơn mỹ nhân. Luyện Hư. Chưởng môn. Lần sau đánh, ta không nhẹ tay.”
“Nàng không còn mạng dư,” Thanh Tuyết nói. Đều. Không phải chế. Là nhắc. “Đánh thì đánh. Đừng chết.”
Hồng cười. “Biết. Cho nên lần này ta chỉ đứng. Che dân. Không Niết Bàn. Không ngu.” Nàng quay sang đám đệ tử Xích Viêm và người Ô Man. “Dựng trại phía đông. Ai lấy linh thạch của dân làng, ta đốt tay.”
Không ai lấy.
Viêm bà bà đi sau Hồng một ngày đường, gậy sắt, râu cháy đã bạc trắng. Bà nhìn hắn từ đầu tới chân, rồi nhìn ấn, rồi khạc một tiếng xuống đất. “Nhóc. Sống dai. Tốt. Lão bà không leo thang được. Lão bà chỉ nấu thuốc. Thuốc đắng. Uống.” Hắn uống. Đắng. Ấn im nửa khắc. “Hết thuốc. Còn lại tự lo.”
Đệ tử Xích Viêm dựng trại. Lửa nhỏ. Không Tổ Hỏa. Tổ Hỏa để ở Nam Hoang, giữ nhà. Ở đây chỉ lửa bếp. Ô Man trẻ dạy trẻ Thanh Thạch vật tay. A Lan mắng. Rồi đưa bánh. Mắng và bánh cùng lúc. Trẻ hai bên đều no.
Đêm Hồng tới, nàng kéo Thanh Tuyết ra sau nhà gỗ. Hắn không theo. Song tâm đủ nghe cảm giác, không nghe lời. Lửa và băng đứng cạnh nhau một khắc. Rồi Hồng về, ngồi uống, nói với hắn: “Nàng ấy bảo ta đứng hàng đầu che dân. Ta bảo đương nhiên. Đừng có tưởng ta tới đây để khóc. Ta tới để nhìn trời cúi. Và để thắng nàng lần nữa sau khi ngươi sống.”
“Còn muốn thắng,” hắn nói.
“Còn. Chết thì hết đối thủ. Ta không thích hết.”
Ngày thứ hai, Bắc Minh tới.
Không bay. Đi bộ. Như lần họp liên minh năm nào. Lãnh Vô Sương ngồi ghế bánh xe Vương bá từng đóng, nay được đệ tử Huyền Băng đẩy. Vai trái vẫn không nguyên. Bàn tay trái vẫn không cử động. Tóc có thêm sợi bạc. Mắt già. Khi thấy Thanh Tuyết, bà cười một lần, ngắn, ấm hơn băng.
“Cháu,” bà gọi. Lần thứ hai trong đời gọi đúng hai tiếng ấy trước mặt thiên hạ.
Thanh Tuyết quỳ một gối. Không phải lễ tông môn. Là lễ cháu. “Dì.”
“Đứng. Đất Thanh Thạch không cần người quỳ lâu.” Vô Sương nhìn hắn. “Tiều phu. Viên rồi. Trời sẽ xuống. Huyền Băng mang đèn. Ba trăm ngọn. Đốt khi mây tới. Không sưởi. Ghi.”
Lạc Băng Tâm đi sau, ngọc giản và bút băng. “Lão thân ghi từ khi lên xe. Số người. Số lửa. Số lần Hồng Liên Diễm gọi minh chủ là đồ khốn: bốn.”
Hồng: “Ghi thêm lần thứ năm.”
“Đã ghi.”
Ngày thứ ba, bóng vàng che nửa sân.
Kim Vũ đáp xuống. Đôi cánh đã lành đủ để xòe thẳng, dù cánh trái vẫn cong một cung nhẹ như nhớ vết gãy năm Đoạn Long Quan. Giáp lông vũ. Tóc vàng. Mắt ưng. Sau lưng, bốn mươi chiến sĩ Kim Bằng xếp hàng, không rút móng. “Kim Bằng Cổ Tộc xin đứng phía tây. Độ kiếp ngày nào, cánh ngày ấy che. Không hỏi thù lao. Thù lao là được đứng dưới cờ chữ Nhân.”
Hắn gật. Đưa lại sợi lông vàng thứ ba trong thư. “Cái này trả. Đừng cho nhiều. Túi tại hạ nhỏ.”
Kim Vũ đẩy lại. “Giữ. Ba sợi. Ba lần rơi. Lần này đừng thả. Thả là tộc bay cả lên kiếm.”
Tạ Thiên Phong về từ Đoạn Long Quan đúng buổi chiều. Một tay. Kiếm lưỡi cuốc đeo bên hông. Tóc muối tiêu nhiều muối hơn tiêu. Nguyên Anh kỳ, khí vững như cổng hắn từng giữ. “Lưng thẳng,” y nói với hắn, như chào, như kiểm.
“Lưng thẳng,” hắn đáp.
Y nhìn giếng. Nhìn ấn dưới áo hắn lộ một góc khi gió thổi. Không hỏi. Chỉ nói: “Quan vẫn mở. Ai muốn vào Đông Thắng nhìn lôi, phải để kiếm ngoài quan. Nội quy cũ. Vẫn dùng.”
Đa Đa viết sổ: “Tạ Thiên Phong về. Một tay. Một kiếm. Một nội quy. Phí ghi: miễn. Vì cổng không tính tiền.”
Huyền Không không tới kịp. Chỉ có tăng trẻ năm nào, mang theo một trăm tám hạt bồ đề mới, chôn thêm một vòng ngoài vòng xá lợi cũ quanh miệng giếng. “Sư thúc dặn: niệm quanh giếng. Để lôi biết chỗ này có người từng chết vì giữ người.” Đất sáng mờ như năm xưa. Trẻ con làng lấy làm trò, rồi bị A Lan mắng, rồi vẫn lấy làm trò nhỏ hơn.
Đêm cố nhân đủ mặt, giếng đầy.
Trước đó, khoảng giờ thân, nước còn cách miệng hai thước. Trẻ con thả lá xuống đo. Lá nổi. Rồi, không có mưa, không có ai đổ, mặt nước cứ lên. Từ từ. Như có ai dưới đáy đẩy. Mạc Vấn Thiên trong cổ giản nói một câu: “Không phải lão. Là mạch. Mạch nhớ lời khắc trên thành. Nó muốn đầy trước khi mây tới. Để người uống. Để ngươi nhớ chỗ bắt đầu không phải chỗ chết.”
Thạch Đầu thấy trước. Ông sai người lấy hết gầu cũ treo quanh thành, rửa sạch, xếp thành hàng. “Đầy thì uống. Không đầy thì cũng xếp. Xếp sẵn đỡ loạn.” A Lan đem thêm chén. “Gầu cho người lớn. Chén cho trẻ.”
Không ai biết nước dâng từ lúc nào. Sáng còn lưng chừng. Tối đã sát miệng, trong vắt, phản ánh sao và phản ánh hàng trăm khuôn mặt cúi xuống. Rêu thành giếng ướt. Chữ khắc năm xưa của một thiếu niên mười lăm tuổi, “Một ngày kia, giếng này lại có nước”, nay ngập nửa nét. Nước không tràn. Chỉ đầy. Như chờ một gầu.
Thạch Đầu năm mươi tuổi, tóc hoa râm, tay chai, tự mình buộc dây, thả gầu xuống, kéo lên. Nước nặng. Ông không để ai giúp. Gầu đầy đặt lên đá miệng giếng, trước mặt Lục Trường Ca.
“Ca,” ông nói. Không gọi minh chủ. Gọi như năm sáu tuổi níu vạt áo. “Nước. Đầy. Năm xưa ca bảo khi giếng có nước thì… lúc ấy tính chuyện cưới. Giờ nước đầy. Ca đã có đạo lữ. Đệ chỉ mang nước. Không mang gì khác.”
Hắn nhận gầu. Nặng. Mát. Phản ánh mắt phải còn lại của hắn và khoảng tối mắt trái. Hắn uống một ngụm. Ngọt. Không phải linh tuyền. Là giếng làng. Là mạch đã chết rồi sống. Hắn đưa gầu cho Thanh Tuyết. Nàng uống. Đưa Hồng. Hồng uống, lau miệng bằng mu bàn tay. “Ngọt. Đỡ hơn rượu ngô. Chỉ đỡ.” Đưa Vô Sương. Bà uống. Đưa Kim Vũ. Đưa Tạ. Đưa Đa Đa. Đưa Ô Mãng. Ai cũng một ngụm. Gầu hết. Thạch Đầu lại thả. Lại kéo. Không mệt.
“Đủ,” hắn nói. “Cảm ơn.”
“Không đủ,” Thạch Đầu nói. “Còn cả làng muốn uống. Uống rồi mới sợ ít hơn.”
Họ để dân làng tới. Từng người. Gầu đi vòng. Trẻ. Già. Người có linh căn. Người không. Đệ tử Dao Trì. Đệ tử Xích Viêm. Kim Bằng. Ai muốn uống thì uống. Ai không muốn thì đứng nhìn nước đầy. Nhìn cũng được.
A Lan kéo Thạch Đầu vào nhà một lúc trước khi gầu đi vòng. Hắn đứng ngoài nghe không rõ, chỉ thấy Thạch Đầu ra với mắt đỏ nhẹ. A Lan nói với hắn, ngắn: “Nhà tôi bảo nó cầm cờ chặt. Không run. Ông cũng đừng run. Run thì cơm nguội.”
Trong nhà có một đứa nhỏ, con Thạch Đầu và A Lan, khoảng bảy tuổi, đầu tròn như hòn cuội năm xưa của bố. Nó níu vạt áo hắn. “Bác Ca. Trời có ăn thịt người không?”
Hắn khom người. Nhớ câu hỏi năm nào. “Không ăn. Đứng cạnh bố ngươi. Đừng chạy lung tung.”
Nó gật. Nghiêm như người cầm cờ tập sự. A Lan kéo nó vào. “Ngủ. Mai còn nhìn mây.”
Khuya, khi lửa trại hạ thấp, Mạc Vấn Thiên lên tiếng trong cổ giản.
Không phải khẽ. Là rõ. Đủ để hắn nghe, và đủ để hắn biết ông muốn hắn ra chỗ riêng. Hắn đứng dậy. Thanh Tuyết nhìn. Song tâm. Nàng biết. Không theo. Hồng nhìn. Không hỏi. Chỉ ném sang một cục củi. “Đi. Về thì uống.”
Hắn ngồi một mình trên miệng giếng, gầu nước mới cạnh chân, Trảm Thiên ngang gối. Tám mảnh cổ giản trong ngực nóng như tám viên than.
“Nói đi,” hắn nói.
Mạc Vấn Thiên cười. Giọng ông già dạy chữ, đóng quan tài, bàn tay không nhăn. “Lão sắp đi.”
“Không.”
“Ngươi nói không thì lão không đi được à?” Ông cười thêm. “Mảnh thứ chín. Ngươi đoán từ lâu. Chính là tàn hồn lão. Cổ giản chỉ viên mãn khi lão tan. Tan thì thành thẻ. Thẻ ghép vào tám mảnh. Chín thanh đủ. Hỗn Độn Diễn Thiên Quyết đủ. Suy diễn lần cuối. Rồi… tùy ngươi dùng.”
Hắn nắm chuôi kiếm. Nét phẩy không run. Tim run. “Giữ. Không cần viên. Tám mảnh đủ chém.”
“Không đủ,” ông nói. Nhẹ. Không phải bác. Là kể. “Năm ấy lão thua vì đứng một mình. Ngươi sẽ không đứng một mình. Nhưng trời không phải kẻ ngươi chém bằng sức một người. Trời là ruộng. Ruộng phải có người dưới đất kéo. Kéo thì cần cổ giản đủ. Đủ thì cần lão tan. Lão đã sống thêm ba nghìn năm trong thẻ trúc. Đủ rồi. Ngươi mang lão đi khắp Ngũ Vực. Ngươi để lão nghe mẹ ngươi hát, dù về sau ngươi quên giọng. Ngươi để lão thấy giếng đầy. Lão nợ đã trả. Ngươi đừng giữ nợ.”
“Không phải nợ,” hắn nói. “Là người.”
Hắn nhớ bàn tay ông không bao giờ có vết nhăn. Nhớ năm mười hai ông dạy chữ “nhân” dưới gốc đa. Nhớ quan tài đóng cho người làng, mỗi lần đóng ông không nói nhiều, chỉ bảo “nằm ngay ngắn”. Nhớ cổ giản nóng lên lần đầu dưới đáy giếng cạn. Nhớ ông ngủ dài, tỉnh ngắn, mỗi lần tỉnh lại chỉ đúng lúc hắn sắp lệch.
“Ngươi nhớ nhiều quá,” ông nói, như đọc được. “Nhớ thì giữ. Giữ ký ức. Đừng giữ hồn. Hồn giữ lâu thành nợ. Ký ức giữ lâu thành đường.”
“Đường nào?”
“Đường về giếng. Đường chẻ củi. Đường không gọi tên trời bằng tên sợ. Lão đi, ngươi vẫn bước. Bước đúng thì lão dù tan cũng đi theo một đoạn dưới lòng bàn chân ngươi. Không phải hồn. Là thói. Thói lão dạy. Thói cha ngươi dạy. Thói làng dạy. Đủ.”
“Người thì có lúc phải đi,” ông đáp. “Lão đi trước. Không phải hôm nay. Hôm nay chỉ nói. Để ngươi quen. Khi bàn tay vàng xuống, khi ngươi rơi xuống đáy giếng, lão sẽ ra. Chặn một chưởng. Tan. Thành mảnh chín. Ngươi đứng dậy. Đừng khóc. Khóc thì nước giếng mặn. Lão không thích mặn.”
Hắn im lâu. Gió qua gốc đào. Cánh đào cuối mùa rơi xuống mặt nước đầy, không chìm ngay. Nổi. Như thuyền.
“Lão sợ không?” hắn hỏi.
“Sợ,” ông nói. “Sợ ngươi giữ. Sợ ngươi vì giữ lão mà chém lệch. Sợ ba nghìn năm thành một sợi dây trói chân ngươi. Cho nên nói trước. Cố nhân đang uống rượu ngoài ấy. Ngươi về uống. Uống xong nhớ: khi lão tan, đừng gọi. Gọi thì lão cứng. Cứng thì tan không sạch. Tan không sạch thì mảnh chín nứt. Nứt thì suy diễn lệch. Lệch thì trời thắng.”
“Tại hạ không gọi,” hắn nói. Rồi sửa. “Ta không gọi.”
“Tốt.” Ông ngừng. “Thêm một câu. Chiếc lông đỏ trong túi ngươi. Hồng Liên Diễm. Nhờ ngươi nói giúp một tiếng cảm ơn. Năm Niết Bàn. Lão tỉnh ngắn. Thấy lửa. Thấy người. Lão chưa kịp nói. Nợ.”
“Sẽ nói.”
“Đi.”
Hắn không đi ngay. Ngồi thêm một khắc. Tay đặt lên ngực, lên tám mảnh. Ấm. Ông không nói thêm. Chỉ ấm. Như năm hắn mười hai, ông dạy chữ dưới gốc đa, than trong lò còn đỏ.
Hắn về đám lửa. Hồng đẩy chén tới. “Mặt xấu. Già nói gì?”
“Nói sẽ đi,” hắn đáp. Không giấu. Không kể hết. Đủ.
Hồng nhìn chén. Không cười. “Già ấy… ta chưa gặp mặt. Chỉ gặp trong lửa năm Niết Bàn. Một bóng. Gật đầu với ta. Rồi tắt.” Nàng nâng chén. “Vậy thì cảm ơn bóng. Uống.”
“Ông nhờ tại hạ nói cảm ơn nàng,” hắn nói. “Vì Niết Bàn. Vì Thanh Tuyết.”
Hồng uống một hơi. Lau miệng. “Được. Nợ xóa. Đừng nói nhiều. Nói nhiều là mùi từ biệt. Ta ghét.”
Thanh Tuyết ngồi cạnh hắn, vai chạm vai. Song tâm. Nàng biết phần ông sẽ tan. Không hỏi lúc này. Chỉ truyền một cảm giác: ta còn. Ngươi còn. Đủ cho đêm nay.
Vô Sương nhìn lửa, nói với không khí: “Ba nghìn năm. Một tàn hồn. Cũng là thọ. Huyền Băng sẽ ghi tên. Mạc Vấn Thiên. Không ghi bại. Ghi: đã về giếng.”
Lạc Băng Tâm viết. Bút băng kêu khẽ trên ngọc giản.
Kim Vũ xòe cánh trái cong, che gió cho đám trẻ Ô Man ngủ bên lửa. “Bay về cát mai. Để cánh đây trước. Che.”
Tạ ngồi mài kiếm lưỡi cuốc bằng một tay, đá mài kẹp giữa đầu gối. “Lôi tới, ai ra ngoài vòng trận, ta chặn. Một tay cũng chặn.”
Đa Đa ghi: “Đêm cố nhân tề tụ. Giếng đầy. Gầu đi một vòng. Mạc Lão… ” Y ngừng bút. Nhìn hắn. Hắn gật. Y viết tiếp: “Mạc Lão nói sẽ đi. Không ghi giá. Không có giá.”
Thạch Đầu không uống nhiều. Ông ngồi cạnh sào cờ, tay nắm chuôi sào, nhìn giếng đầy. “Ca. Năm xưa đệ hỏi tiên nhân có ăn thịt người không. Ca bảo không. Bảo đứng sau lưng. Giờ đệ năm mươi. Ca năm mươi sáu. Đệ vẫn đứng. Không phải sau lưng. Là cạnh. Cờ đây. Người đây.”
“Biết,” hắn nói. “Cảm ơn.”
“Mai,” A Lan nói từ cửa bếp, “cơm nhiều. Ai ở lại ăn. Ai đi thì mang nắm. Không ai đói trước khi mây tới.”
Họ ở lại. Ngủ. Ai trên ghế. Ai trên đất. Ai trong lều. Hắn và Thanh Tuyết ngồi bờ giếng tới gần sáng, không ngủ. Ấn lạnh. Tay nàng ấm. Nước đầy không gợn. Tám mảnh cổ giản ấm, như ông già còn ngồi trong đó đang đếm sao.
Trước khi trời sáng hẳn, Vương bá mang tới một bó củi mới. “Minh chủ. Chẻ. Tay ngươi chẻ thì bếp chắc. Bếp chắc thì người ngoài trận ăn được lâu.” Hắn chẻ. Thật. Hai mươi khúc. Nửa người trái xanh phải tán. Hồng ngồi nhìn, không giúp. “Nhát thứ bảy nghiêng.” Hắn sửa. “Được. Tiều phu.” Nàng nói hai chữ ấy không phải chế. Là công nhận.
Tô Tịnh Liên và các đệ tử Dao Trì mang theo một rương đan cầm máu, hạ phẩm, đủ cho phàm nhân cầm máu khi sợ quá đứt hơi. Thanh Tuyết không lấy từ kho tông. Lấy từ phần của chính nàng. “Không phải bố thí. Là đồ dùng. Dùng hết tính sau.”
Kim Vũ gọi bốn mươi chiến sĩ xếp cánh thành hai hàng ngoài cổng tây. “Ai bay lên xem lôi từ trên cao, phải trở xuống trước khi sấm thứ ba. Trên cao gần kiếp vân dễ bị lôi nuốt. Nuốt thì tộc mất người. Không mất.”
Ô Mãng cắm trượng xuống đất phía nam, đúng chỗ gió hay thổi vào làng. “Cha ta đốt một lần. Con ta không đốt. Chỉ đứng. Đứng cũng là lửa.”
Đa Đa mở một trang sổ mới, viết lớn hai chữ: “KIẾP.” Bên dưới để trống. “Sống thì ghi sống. Chết thì… cũng ghi. Ghi để đòi.” Y nhìn hắn. “Đùa. Không đòi được thì thôi. Vẫn ghi.”
Sáng hôm sau, trời vẫn xanh. Chưa có mây kiếp. Pháp tắc còn đếm. Người thì đã đủ.
Hồng đứng trên nóc nhà gỗ, nhìn bốn hướng. “Trận ngoài trăm dặm. Xích Viêm cùng Ô Man phía nam. Kim Bằng tây. Huyền Băng bắc. Dao Trì và Phàm Nhân Minh đông. Trung tâm là giếng. Ai phá trận từ ngoài, ta đốt. Ai phá từ trong… ” Nàng nhìn hắn. “Không ai phá từ trong. Phá là đồ khốn.”
“Nội quy hay,” Đa Đa ghi.
Vô Sương sai đệ tử xếp ba trăm ngọn đèn băng thành vòng ngoài vòng xá lợi. “Đốt khi tối. Không đốt sớm. Sớm phí.”
Kim Vũ bay một vòng trăm dặm, về báo: “Không mây. Có người. Dân các thôn Thủ Hộ đang tụ về phía ngoài trận. Họ muốn nhìn. Không vào. Chỉ nhìn.”
“Cho nhìn,” Thạch Đầu quyết. Người cầm cờ. “Nhìn từ ngoài trăm dặm. Vào trong thì nguy. Nhìn được thì nhìn. Phàm nhân có quyền nhìn trời đánh người của mình.”
Hắn đứng trên miệng giếng. Gầu nước đầy để cạnh chân. Trảm Thiên cầm ngang. Áo mở một khuy, ấn lộ. Tóc mai bạc. Mắt trái tối. Mắt phải nhìn từng khuôn mặt quanh sân.
“Không diễn văn,” hắn nói. “Chỉ một câu. Ba năm trước ta mời trời xuống. Trời chưa đáp. Nay ta viên. Kiếp sẽ tới. Tới thì đánh. Các ngươi che dân. Đừng che ta. Che ta là cướp việc của lôi. Lôi phải gột ấn. Gột xong mới… tính chuyện sau.”
Hồng: “Đồ khốn. Vẫn dài dòng.”
Cười. Nhiều người cười. Cần cười.
Thanh Tuyết bước tới cạnh hắn. Không nắm tay trước mặt thiên hạ. Chỉ đứng. Đúng chỗ. “Khi mây tới, ta ra ngoài vòng. Ngươi ngồi đây. Rơi thì ta vào. Không bàn lại.”
“Không bàn,” hắn nói.
Trong ngực, Mạc Vấn Thiên nói khẽ, chỉ hắn nghe: “Tốt. Cố nhân đủ. Giếng đầy. Lão cũng đủ. Đợi mây đi.”
Gần sáng, hắn một mình lau Trảm Thiên bằng một mảnh vải thô. Không dầu linh. Không trận văn. Chỉ lau. Chữ trên lưỡi hiện đủ dưới ánh sao cuối. Tiên khí nằm im trong gỗ và đồng, như thú đã ăn no đang ngủ, chờ một tiếng gọi đúng.
Thanh Tuyết tới, không hỏi ông già trong giản. Chỉ đưa một chiếc khăn sạch. “Máu đen trên cổ áo. Lau.” Hắn lau. Nàng ngồi. “Khi ông ấy đi, ngươi được phép đau. Không được phép lệch. Đau thì nắm tay ta. Lệch thì ta đỡ kiếm. Hai việc khác nhau.”
“Biết.”
“Hồng sẽ đứng hàng đầu,” nàng nói. “Dì phía bắc. Kim Vũ tây. Ta đông. Thạch Đầu cầm cờ giữa dân. Ngươi giữa giếng. Vòng nào vỡ, vòng ngoài bù. Không ai được phá vòng để ‘cứu’ ngươi giữa lôi. Ai phá, ta coi là địch.”
“Nội quy chặt.”
“Phải chặt. Lỏng thì chết nhiều.” Nàng ngừng. Song tâm truyền một ấm ngắn. “Sống. Rồi tính chuyện thắng Hồng. Nàng ấy nói to. Ta nghe thấy.”
Hắn cười. Lần đầu trong đêm. Ấn lạnh. Cười vẫn được. Cười không xóa lạnh. Chỉ khiến lạnh chịu được hơn.
Xa, phía đông bắc, sợi chỉ bạc Thông Thiên Thê không sáng thêm. Nhưng gió từ hướng ấy mang một mùi sắt vàng rất mỏng, như lưỡi dao vừa mài. Ấn trên ngực hắn đập lệch một nhịp. Điểm sáng xám giữa rễ đen mở ra bằng nửa hạt kê, rồi khép.
Nước giếng đầy. Gầu gỗ Thạch Đầu còn ướt. Cố nhân còn. Làng còn. Củi còn xếp ở góc sân. Bếp còn than.
Còn thiếu mây. Mây sẽ tới. Tới thì tám mươi mốt đạo. Tới thì có thể tám mươi hai. Tới thì ông già trong thẻ trúc sẽ giữ lời đã nói đêm nay, và hắn sẽ phải không gọi, dù muốn gọi đến gãy răng.
Hắn nắm chuôi Trảm Thiên. Nét phẩy không run. Gật đầu với Thạch Đầu. Với Hồng. Với Vô Sương. Với Kim Vũ. Với Tạ. Với Đa Đa. Với Thanh Tuyết. Với cái giếng đã đầy.
Gật đầu cũng là hứa. Hứa sẽ đứng. Hứa sẽ để ông đi khi đến lúc. Hứa sẽ không để làng cháy vì một nhát kiếm lệch.
Trời xanh. Chưa cúi. Người đã tụ. Giếng đã đầy. Một gầu nước đi một vòng cố nhân, ngọt hơn mọi linh tuyền hắn từng uống từ năm mười hai tới năm năm mươi sáu.
Muốn biết hậu sự thế nào, xin xem hồi sau phân giải.